Apocalipse 21
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Rồi tôi thấy trời mới và đất mới vì trời và đất thứ nhất đã biến mất, biển cũng không còn.
1 “Imaibo ayu mar boubun naatu tafaram boubun aitin. Mar wantoro’ot ma’am naatu tafaram wantoro’ot ma’am etei sawar, riy auman saki iwa’an.
2 Tôi cũng thấy thành thánh là Giê-ru-sa-lem mới từ thiên đàng của Thượng Đế xuống. Thành ấy được chuẩn bị như cô dâu ăn mặc sẵn sàng chờ chồng mình.
2 Ayu bar merar kakafiyin, Jerusalem boubun mar God biyanane tit re’er aitin, babitai tabin isan ti’abur aawan biyan baitubarin isan enan na’atube.
3 Rồi tôi nghe một tiếng lớn phát ra từ ngôi rằng, “Bây giờ lều tạm của Thượng Đế ở giữa dân Ngài, Ngài sẽ sống giữa họ còn họ sẽ làm dân Ngài. Chính Ngài sẽ ở giữa họ và làm Thượng Đế của họ.
3 Naatu urama’amamaim fanan aumetawat anowar eo, ‘Boun God ana sabuw biyah i ana bar matar, naatu boro bairi hinama. I boro ana sabuw hinamatar naatu God taiyuwin boro hai God namatar bairi hinama.
4 Ngài sẽ lau hết nước mắt khỏi mắt họ; sẽ không còn chết chóc, buồn thảm, khóc lóc hay đau đớn nữa vì những việc cũ đã qua rồi.”
4 maturih nasafamen. Nati’imaim morob boro men namatar maiye’emih, o yababan o rerey o baiyababan, anayabin marasika ana sawar i earuwasair sawar.’”
5 Đấng ngồi trên ngai nói, “Nầy, ta làm mới lại mọi việc!” Rồi Ngài tiếp, “Hãy viết, vì đây là những lời chân thật và đáng tin.”
5 Orot nati ana urama’ama’amaim ma’am, eo, “Ayu sawar etei asinaf tibiboubuh.” Imaibo eo, “Iti inakirum nara’iy anayabin iti tur i turobe naatu karam boro hinitumatum.”
6 Đấng ngồi trên ngai phán cùng tôi, “Xong rồi. Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Đầu cũng là Cuối. Ta sẽ tặng không nước từ suối sự sống cho kẻ nào khát.
6 Ayu isou eo, “Sawar etei aisawar! Ayu i An naatu Yomanin, Busurufinayan naatu Baisawarinayan. Yait sikan namamamah ayu boro yawas ana harew buruburur aurin baiyan en anitin natom.
7 Kẻ nào thắng sẽ nhận được các ân phúc ấy. Ta sẽ làm Thượng Đế của họ, và họ sẽ làm con cái ta.
7 Orot yait baiyow fokarin nabisnowah, i boro sawar etei ayu biyou’une nabow ayu i ana God naatu i boro ayu natu namatar.
8 Còn những kẻ hèn nhát, kẻ vô tín, kẻ làm ác, kẻ giết người, kẻ dâm dục, kẻ phù phép, kẻ thờ thần tượng và kẻ nói dối—chỗ của chúng nó là hồ lửa diêm sinh. Đó là cái chết thứ hai.”
8 Baise baiwawa’irayah, baitumatum atih, eteni, asbunuwenayah, baisesebarayah, farumayah, God ana baimataren sawar kwafirenayah, naatu baifufuwenayah etei, hai efan i wairaf fora’abin in ebitakir ana kukufamaim hinara’iy na’afufurih. Nati i morob bairou’abin.”
9 Rồi một trong bảy thiên sứ trước cầm bảy chén đầy bảy nỗi khốn khổ cuối cùng đến nói với tôi, “Hãy đi với ta, ta sẽ cho ngươi thấy cô dâu là vợ của Chiên Con.”
9 Tounamatar seven wanawanahimaim tounamatar bai seven tew seven yomanin ana sawow kakafih yumatah ta ta bobotanen isou eo, “Kuna ayu boro Babitai boubun Lamb aawan ani’obaiy ina’itin.”
10 Tôi được thiên sứ nhờ quyền năng của Thánh Linh mang đến một hòn núi rất lớn và cao. Người chỉ cho tôi thấy thành thánh Giê-ru-sa-lem từ thiên đàng của Thượng Đế xuống.
10 Naatu Anun kakafiyin matou bora’ah tounamatar eabaru airi an oyaw gagamin manin na’in tafan atit, naatu tafaram kakafiyin, Jerusalem bar merar God biyanane re nan i’obaiyu.
11 Thành sáng rực do vinh hiển Thượng Đế và chói như bửu ngọc, giống như bích ngọc, trong như pha lê.
11 God ana gewasin auman eargawu tafaram mamarakaw ana itinin i agim bonamanamarinabe, sawar ta woun o wair jasper na’atube, kumedarin crystal na’atube.
12 Thành có tường cao lớn với mười hai cửa, mỗi cửa có một thiên sứ đứng gác, trên mỗi cửa có khắc tên của một trong mười hai chi tộc Ít-ra-en.
12 Iti bar merar ana fur i gagamih naatu manih. Ana etawan awah etei twelve naatu tounamatar etei twelve nati awahimaim, naatu nati etawanamaim i Israel sabuw hai big twelve wabih i hikirum.
13 Ba cửa hướng Đông, ba cửa hướng Bắc, ba cửa hướng Nam và ba cửa hướng Tây.
13 Naatu etawan tounu i veya eyeyene hiya, etawan tounu i oyawane, tounu torene, tounu veya ere’erene.
14 Tường thành xây trên mười hai tảng đá nền và trên các tảng đá có ghi tên mười hai sứ đồ của Chiên Con.
14 Bar merar gagamin ana faf i twelve naatu ana wabat etei twelve tafahimaim hiwowab, nati’imaim Lamb ana tur gewasin abarayah wabih.
15 Vị thiên sứ nói chuyện với tôi cầm một thước đo bằng vàng để đo thành, cổng và tường.
15 Tounamatar ayu iu’uwu, umanamaim i fufunen ana isik gold bai bar merar etawan, naatu bar merar ana fur fufunen isan.
16 Thành xây hình vuông, chiều dài và chiều rộng bằng nhau. Thiên sứ lấy thước đi đo thành. Chiều dài của thành là mười hai ngàn ếch-ta-đia, chiều rộng cũng mười hai ngàn ếch-ta-đia, và chiều cao cũng vậy.
16 Tounamatar re na fufun i’itin tainin rororon etei i ta’imon, ana manin naatu ana tayabar i hairi ta’imon, anayabin tainin rounane ana manin isan fufufun 2,400 kilometres. Naatu tainin roun ana tayabar isan fufufun auman i 2, 400 kilometres
17 Thiên sứ cũng đo vách thành. Vách cao một trăm bốn mươi bốn bộ, theo thước đo loài người mà thiên sứ dùng.
17 Imaibo ana faf fufun ana badowanin i’itin i at tanabat taniyab tanan etei 60 metres na’atube.
18 Tường làm bằng bích ngọc, thành xây bằng vàng ròng, giống như thủy tinh trong suốt.
18 Bar merar ana faf i kabay wabin jasper imaim hifaf, naatu bar merar tutufin etei ana itin i goldawat, matan diridirin kiyam na’atube.
19 Các nền thì làm bằng đủ thứ ngọc. Nền thứ nhất làm bằng bích ngọc, nền thứ nhì làm bằng lam bửu thạch, nền thứ ba bằng lục mã não, nền thứ tư bằng lục bửu thạch,
19 Bar merar ana faf an ana wabat i kabay gewasih yumatah ta ta imaim hi’abur. Ana wabat wantoro’ot i kabay wabin jasper, bairou’abin saphire, baitounin i agate, baikwafi’inin i emarod.
20 nền thứ năm bằng hồng ngọc, nền thứ sáu bằng hồng bửu thạch, nền thứ bảy bằng hoàng ngọc, nền thứ tám bằng ngọc thủy thương, nền thứ chín bằng ngọc hồng bích, nền thứ mười bằng ngọc phỉ túy, nền thứ mười một bằng ngọc da cam, nền thử mười hai bằng ngọc tử bửu.
20 bai five i onyx bai six i kanerian, bai seven karisorait, bai eight i berer, bai nine i tofas, bai ten i kalisedoni bai eleven jesinet, bai twelve ametis.
21 Mười hai cửa làm bằng mười hai hột ngọc trai khổng lồ, mỗi cửa làm bằng một hột ngọc trai nguyên khối. Đường thì làm toàn bằng vàng ròng, trong vắt như thủy tinh.
21 Etawan etei twelve i kabay biyah mudid imaim hiya, naatu etawan ta’ita’imon etei i kabay biyah mudidimaim hi’abur, ef gagamin i gold akisin hirab kiyam na’atube.
22 Tôi không thấy một đền thờ nào khác trong thành vì Chúa, Thượng Đế Toàn Năng và Chiên Con là đền thờ của thành.
22 Bar merar gagamin wanawanan Tafaror Bar men aitin, anayabin God fairin naatu Lamb taiyuwih i Tafaror Bar.
23 Thành cũng không cần mặt trời, mặt trăng chiếu sáng vì vinh hiển của Thượng Đế là ánh sáng cho thành và Chiên Con là đèn của thành.
23 Bar merar men ekokok veya, o sumar tafanamaim nararan, anayabin God ana bonamanamarin marakaw ebitin, naatu Lamb i ana ramef.
24 Nhờ ánh sáng ấy các dân trên thế giới sẽ bước đi còn các vua trên đất sẽ mang vinh hiển mình vào đó.
24 Tafaram tutufin boro i ana marakawinamaim hinaremor naatu tafaram hai aiwob boro hai guguw hinabow wanawanan hinarun.
25 Các cổng thành chẳng bao giờ đóng vì ở đó không còn có đêm nữa.
25 Etawan awah boro mar etei bobotawiyen hina’in, boro men ta hinahir, anayabin nati’imaim boro aurin gugumin en.
26 Các dân tộc sẽ mang vinh hiển và uy danh vào đó.
26 Tafaram ana gewasin naatu ana baibifa’en sawar boro hinabow bar merar wanawanan hinarun.
27 Mọi điều dơ bẩn, các kẻ làm những việc nhơ nhuốc và các kẻ nói dối đều không được vào. Chỉ những người có tên trong sách Chiên Con mới được phép vào thành thôi.
27 Naatu sawar men rousouwin na’atube sabuw iyabowat biya’ohow ana gubagub naatu baifufuwen ana gubagub auman tema’am boro men hinarun. Baise iyabowat wabih Lamb ana bukamaim hikikirum akisih boro hinarun.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Apocalipse 21, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.