Apocalipse 20

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Tôi thấy một thiên sứ từ thiên đàng xuống. Người cầm chìa khóa của hố không đáy và dây xiềng lớn trong tay.
1 Naatu ayu marane tounamatar umanamaim efan wanu’umin ana tufatan naatu ana chain bitan auman botan renan aitin.
2 Người bắt con rồng, tức con rắn xưa, là ma quỉ và Sa-tăng, xiềng nó lại trong một ngàn năm.
2 Farubarubar bai rab, kik owe’owen ana kok, wabin Demon o Satan naatu fatum kwamur one thousand na’atube nama.
3 Rồi quăng nó xuống hố không đáy, đóng và khóa hố lại, nhốt nó trong đó. Như thế để nó không còn đi phỉnh gạt dân cư trên đất cho đến hết một ngàn năm. Sau một ngàn năm, nó sẽ được thả ra trong ít lâu.
3 Ta’asiy sou wanu’umin wanawanan ra’iy etawan tufabon naatu ikwah, saise i boro men tafaram ni’afiy maiye kwamur one thousand nasawarabo. Nati ufunamaim i boro hinabotait mar kabumin nama.”
4 Rồi tôi thấy có các ngôi và những người ngồi trên ngôi được quyền xét xử. Tôi thấy linh hồn của những người đã bị giết vì xưng nhận Chúa Giê-xu và truyền bá lời Thượng Đế. Họ chưa bái lạy con vật hay hình tượng nó và chưa nhận dấu của nó trên trán hay trên tay. Họ được sống lại để cai trị với Chúa Cứu Thế trong một ngàn năm.
4 “Ayu urama’ama tafanamaim sabuw iyabowat baibatiyen isan ana fair hibitih himarir hima’am aitih. Naatu sabuw Jesu isan hio’orereb isan sikah hi’a’afuw naatu God ana tur isan sikah hi’a’afuw etei ayubih hima’am aitih. Iti sabuw i men kafa’imo sawaidab naatu i ana yumatabe hikwafirihimih, naatu ana ewow auman umahimaim o nakwetahimaim men hikirumimih. Etei hiyawas naatu Keriso bairi kwamur one thousand na’atube hi’aiwob.
5 Còn những người khác sẽ không sống lại cho đến khi mãn một ngàn năm. Đó là sự sống lại thứ nhất.
5 Murumurubih afa men hiyawas na’atuka hima kwamur one thousand in sawar. Iti i murumurubih hai misir wantoro’ot.
6 Phúc cho người nào được dự phần trong sự sống lại thứ nhất vì sự chết thứ hai không có quyền gì trên họ. Họ sẽ làm thầy tế lễ cho Thượng Đế, cho Chúa Cứu Thế và sẽ cai trị với Ngài trong một ngàn năm.
6 Yasisir naatu baigegewasin i sabuw iyabowat wantoro’ot morobone himimisir maiye isah. Morob bairou’abin i isah i aurin fair en, baise i boro God ana firis naatu Keriso ana firis hinamatar Keriso bairi hini’aiwob kwamur one thousand nab.”
7 Cuối một ngàn năm thì Sa-tăng sẽ được thả ra khỏi ngục.
7 Kwamur etei one thousand nasasawar ufunamaim, Satan boro i ana dibur barene hinabotait.
8 Nó sẽ đi phỉnh dỗ các dân trên đất—dân Góc và dân Ma-góc—để tập họp họ lại chuẩn bị chiến tranh. Chúng nó đông như cát bờ biển.
8 naatu natit nan tafaram Gog naatu Magog ana huhun kwafe’en sabuw etei nifufuwih narunawiyih baiyow isan, naatu nati sabuw baiyow isan hinaruru’ay ana itinin riy sisibin dones na’atube.
9 Đạo quân của Sa-tăng tràn qua mặt đất và bao vây doanh trại của dân Thượng Đế và thành yêu dấu của Ngài. Nhưng lửa từ trời giáng xuống thiêu đốt chúng nó.
9 Naatu me yabarin yan tasasar hitit hiremor hin God ana sabuw hai ma’ama sis naatu God ana yabow bar merar etei hi’ar bebera’uhih, baise marane wairaf ra’iy na bo’ara’ara’ahih.
10 Còn Sa-tăng là kẻ phỉnh dỗ chúng bị ném vào hồ lửa diêm sinh nơi có con vật và tiên tri giả đã bị ném. Chúng sẽ bị trừng phạt khổ sở ngày đêm cho đến đời đời.
10 Naatu Demon mowan bifufuwih hibai hita’asiy wairaf in bitakir wanawanan ra’iy eafufur, sawaidab naatu dinab baifuwenayan hairi hita’asiyih hire’ere’emaim. Nati’imaim boro fai mar hini’akir wanatowan, wanatowan.
11 Rồi tôi thấy một ngai trắng và lớn cùng Đấng ngự trên ngai. Trước mặt Ngài trời đất trốn mất hết.
11 Imaibo ayu ura ma’ama kwes gagamin tafanamaim God ma’am aitin. Mar tafaram i nanamaim earouwasa’ir, naatu nati’imaim i aurih efan en.
12 Tôi thấy những người chết, cả lớn lẫn nhỏ đều đứng trước ngai. Các sách mở ra, rồi một sách khác là sách sự sống cũng mở ra nữa. Những người chết bị xét xử theo những điều họ đã làm đã được ghi trong các sách.
12 Naatu ayu sabuw murumurubih aitih, gagamin re in kikimin ura ma’ama nanamaim hibatabat, naatu buk etei hibotawiyen. Buk ta hibobotawiy i yawas ana buk. Murumurubih abisa hisinaf bukamaim hikirum hi’inu’in imaim hibabatiyih.
13 Biển đem trả lại những kẻ chết nó chứa, còn Sự Chết và Ha-đe cũng mang trả những kẻ chết chúng chứa. Mỗi người đều bị xét xử theo điều mình làm.
13 Riy wanawanan murubih kwahiren, naatu morob naatu morob ana efan, murumurubih hikwahirih. Naatu orot ta’ita’imon hai sinafumaim hibabatiyih.
14 Rồi Sự Chết và Ha-đe bị ném vào hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai.
14 Imaibo murumurubih naatu murubih hai efan i hita’asiyih wairaf ana kukuf wanawanan hira’iy, iti wairaf i morob bairou’abin.
15 Người nào không có tên trong sổ sự sống đều bị ném xuống hồ lửa.
15 Yait ta wabin men yawas ana bukamaim hititita’ur i hita’asiy wairaf ana kukuf wanawananan rara’iy.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Apocalipse 20, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.