Apocalipse 16
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Sau đó tôi nghe một tiếng lớn từ đền thờ bảo bảy thiên sứ, “Hãy đi ra trút bảy chén thịnh nộ của Thượng Đế xuống đất.”
1 Imaibo ayu Tafaror Barene fanan gagamin ta tounamatar nah etei seven isah eo anowar. “Kwan God ana yaso’ar tew seven wanawanah tema’am tafaram tafanamaim kwaisuwa’en tera’iy”.
2 Thiên sứ thứ nhất đi ra trút chén xuống đất liền có ung nhọt ghê tởm trên những người có dấu con vật và thờ lạy hình tượng nó.
2 Tounamatar wan batabat tit ana tew isuwai me yan ra’iy. Feher yumatah kakafih naatu babanih kakafih anababatun, sabuw iyabowat sawaidab ana ewow hibai hima’am naatu sawaidab ana yumatabe hikwakwafir biyahimaim matar.
3 Thiên sứ thứ hai trút chén trên biển thì biển hóa ra như máu người chết, mọi sinh vật trong biển đều chết hết.
3 Imaibo tounamatar bairou’abin ana tew e’abar suwai riy yan ra’iy, matan botabir orot babin murubin ana rara’abe matar, naatu riy wanawanan siy yawayawasih etei himumurub.
4 Thiên sứ thứ ba trút chén trên các sông và suối nước thì tất cả liền hóa ra máu.
4 Ibanak maiye tounamatar baitounin ana tew harew gagamih yahimaim isuwai ra’iy naatu harew sosoh yahimaim auman isuwai ra’iy, harew etei matah botabir rara himatar.
5 Rồi tôi nghe thiên sứ của nước nói rằng,
5 Naatu tounamatar harew ana ukwarin eo anowar,
6 Họ đã làm đổ máu của dân thánh và các nhà tiên tri Ngài
6 Anayabin a sabuw kakafiyih naatu a dinab oro’orot rara hitih,
7 Rồi tôi nghe tiếng từ bàn thờ nói rằng,
7 Imaibo ayu fanan ta sibor ana gemane titit anowar,
8 Thiên sứ thứ tư trút chén trên mặt trời thì mặt trời được phép đốt cháy người ta.
8 Naatu tounamatar baikwafe’enin ana tew bai veya matanamaim isuwai re, sabuw a’arahih isan ana fair bai ana fora’abin ra’at.
9 Họ bị sức nóng cháy phỏng nên nguyền rủa Thượng Đế là Đấng có quyền trên các sự khốn khổ ấy. Họ vẫn không chịu ăn năn hối hận để dâng vinh hiển cho Ngài.
9 Veya wabuburin eafun tututurih biyah hikakoumih, naatu God iti feher kakafih ana fair bai ma sisinaf isan tur kakafih hio wabin hi’a’afiy. Naatu men hikokok boro dogor baikitabir hitab, God ana gagamin isan hitabora’ara’ah.
10 Thiên sứ thứ năm trút chén trên ngôi con vật thì liền có bóng tối bao phủ toàn nước nó. Người ta cắn lưỡi vì đau đớn.
10 Tounamatar bai five ana tew eabar suwai sawaidab ana urama’ama tafan ra’iy. Gugumin kakafin sawaidab ana aiwob etei tarsumih naatu sabuw menah hiboyobayob anayabin biyababan gagamin maiyow hibai.
11 Họ cũng nguyền rủa Thượng Đế vì đau đớn và ghẻ chốc, nhưng họ vẫn không chịu ăn năn hối hận để quay khỏi điều ác họ làm.
11 Tur kakafih mar ana God isan hio, anayabin biyah hai babanih naatu feher hai babanih i hira’at kwanekwan. Baise sinaf kakafih i men hihamiyen.
12 Thiên sứ thứ sáu trút chén trên sông lớn Ơ-phơ-rát để sông cạn nước đặng chuẩn bị cho các vua từ phương Đông đến.
12 Iban maiye tounamatar bai six ana tew eabar suwai Euphrates harew gagamin yan ra’iy, harew eosasa ef imatar aiwob veya yeninane isah.
13 Rồi tôi thấy ba ác linh giống như ếch nhái bò ra từ miệng con rồng, miệng con vật và miệng của tiên tri giả.
13 Imaibo afiy katokato’iy tounu takwey hai itininabe, farubarubar awanane, sawaidab awanane naatu dinab baifufuwenayan awahine hititit aitan.
14 Mấy ác linh ấy là tà linh của ma quỉ, có quyền làm phép lạ. Chúng đi ra cùng các vua trên thế gian, tập họp họ lại để chuẩn bị trận chiến trong ngày lớn của Chúa Toàn Năng.
14 Iti i demon ana afiy ina’inan sinafuyah, iti afiy tounu i titit ten tafaram tutufin wanawanan aiwob etei tiru’ayuwih God fairin maiyow ana veya gagaminamaim baiyow isan.
15 “Nghe đây! Ta sẽ đến như kẻ trộm! Phúc cho người nào thức tỉnh và mặc áo quần, khỏi trần truồng để mọi người không thấy sự xấu hổ của mình.”
15 “Kwananowar ayu i bainowanabe anan. Orot yait matan to iwa’an ana waifuw ius ema’am i boro niyasisir, naatu boro men segar sabuw nahimaim erebiya’ohow nabat naremoramih.”
16 Rồi các tà linh tập họp các vua tại một nơi mà tiếng Hê-bơ-rơ gọi là A-ma-ghê-đôn.
16 Imaibo wagabur kakafih aiwob etei hiru’ayuwih hina efan wabin Armageddon, Hebrew turamaim hibiwab Armageddon imaim hitit.
17 Thiên sứ thứ bảy trút chén trong không khí liền có tiếng lớn từ ngôi trong đền thờ kêu rằng, “Xong rồi!”
17 Imaibo tounamatar bai seven ana tew waruw wanawananamaim isuwai ra’iy, fanan gagamin Tafaror Bar wanawanan urama’ama’ane tit eo, “Iti i i’asa’ub sawar.”
18 Liền có chớp, sấm rền trời và động đất dữ dội—cơn động đất lớn chưa từng có kể từ khi con người sống trên đất.
18 Nati’imaim namanamar bokiyakiyat, farafarar kakafin rab bitenkwarikwarir naatu iriyoy i men matar orot babin hi’itin na’atube mataramih, iriyoy iti i kakafin anababatun.
19 Thành lớn bị nứt ra làm ba còn các thành phố của các quốc gia đều bị tiêu hủy. Thượng Đế nhớ lại tội lỗi của thành Ba-by-lôn lớn cho nên Ngài bắt nó uống chén đầy rượu thịnh nộ kinh hoàng của Ngài.
19 Bar merar gagamin i tarasib tounu himatar, naatu bar merar etei tafaram wanawananamaim hima’am etei gurusih. God Babilon gagamin isan not, naatu ana kerowasamaim wine Babilon itin tom, iti wine i God ana yaso’ar.
20 Các hải đảo đều trốn đi, núi cũng biến mất.
20 Nuw etei’imak hikasiy naatu oyaw etei na’am hin sawar.
21 Có những tảng mưa đá khổng lồ, mỗi tảng nặng khoảng 36 kí-lô từ trời rơi xuống trên người ta. Dân chúng nguyền rủa Thượng Đế do nạn mưa đá vì cơn khốn khổ đó quá khủng khiếp.
21 Taun kabay gagamih hai bit anafofonin 50 kilos na’atube, marane tounabe ihururuw orot babin tafahimaim hira’iy, naatu sabuw God hio bayubayuw, anayabin kabay gagamih tounabe yar re, iti gurugurusen i kakafin anababatun.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Apocalipse 16, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.