Apocalipse 14

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Rồi tôi thấy trước mặt tôi là Chiên Con đang đứng trên núi Xi-ôn. Cùng với Ngài có một trăm bốn mươi bốn ngàn người có ghi tên Ngài và tên cha Ngài nơi trán.
1 Imaibo ayu anuwanuw nou’umaim oyaw Zion tafan Lamb batabat aitin, ana sabuw etei 144, 000 bairi. Naatu nati sabuw nakwetahimaim i Lamb wabin naatu Tamah wabin auman hikirumen.
2 Liền đó tôi nghe một tiếng lớn từ thiên đàng như tiếng nước lụt và tiếng sấm lớn. Tiếng tôi nghe như người ta chơi đờn cầm.
2 Naatu maramaim nidun ta anonowar i harew tititit niduhibe, naatu gunum erab gugugug ebiwa’an na’atube. Niduw anonowar i taboroyah hai douduf terabirabibe.
3 Họ hát một bài ca mới trước ngôi, trước bốn con vật và các trưởng lão. Không ai biết được bài ca ấy ngoài một trăm bốn mươi bốn ngàn người đã được chuộc khỏi đất.
3 Naatu urama’ama, sawar kwafe’en yawasih ma’anih naatu regaregah ai’in nahimaim hibat ew boubun hitabor, iti ew i boro men yait ta hini’obaiyih hinaso’ob, baise tafaram ana sabuw etei wanawanahimaim 144,000 hitutubunih akisihimo iti ew hiso’ob.
4 Đó là những người chưa bị ô dơ với đàn bà vì họ còn giữ mình tinh sạch. Chiên Con đi đâu thì họ đều đi theo đó. Một trăm bốn mươi bốn ngàn người nầy được chuộc từ dân cư trên đất để làm của lễ dâng lên cho Thượng Đế và Chiên Con.
4 Iti oro’orot i biyah hikaif gewas uhew hima, men kafa’imo baibin bairi hi’in biyah gubagub mataramih. Mar etei Lamb menamaim inan i hibi’ufunun. Orot babin etei wanawanahimaim i akisihimo hitubunih, ai ro’oh wan tiyamur tafafayay na’atube, God ana Lamb hairi hai fayay na’atube hitih.
5 Họ chưa hề nói dối; họ hoàn toàn thánh thiện.
5 Men kafa’imo baifuwen ta awahimaim hitita’urihimih aurih ubar, en.
6 Rồi tôi thấy một thiên sứ khác bay thật cao giữa trời. Người có Tin Mừng đời đời để rao truyền cho dân cư trên đất—cho mọi nước, mọi chi tộc, mọi ngôn ngữ và mọi dân.
6 Naatu anuwanuw tounamatar ta auyom waruw wanawanan roberob aitin, wanatowan ana tur gewasin bai tafaramamaim sabuw, tafaram ta ta, big ta ta, tur ta ta naatu biyah ta ta, isah orerebamih.
7 Người lớn tiếng kêu lên rằng, “Hãy kính sợ và ca ngợi Thượng Đế vì đã đến giờ Ngài xét xử mọi người. Cho nên hãy thờ lạy Ngài là Đấng dựng nên trời, đất, biển cùng các suối nước.”
7 Fanan aumetawat na’in eo, “God kwanabiruw naatu kwanakakafiy! Ana gagamin kwanao kwanabora’ara’ah, anayabin baibabatiyen ana veya natit. God, mar, tafaram, riy, naatu harew ana sinafenayan kwanakwafir.”
8 Tiếp đó, thiên sứ thứ hai đi theo thiên sứ thứ nhất và kêu lên, “Thành Ba-by-lôn lớn đã sụp đổ, sụp đổ rồi! Nó khiến mọi quốc gia uống rượu thịnh nộ của Thượng Đế nghịch lại tội nhục dục của nó.”
8 Tounamatar bairou’abin i’ufunun tit eo, “Babilon ra’iyeka! Babilon bar merar gagamin i ra’iyeka, anayabin tafaram wanawanan sabuw baiwa’an kwanekwan ana wine babin faramih etei hitom!”
9 Rồi thiên sứ thứ ba nhập chung với hai thiên sứ trước, kêu lên, “Người nào thờ lạy con vật và hình tượng nó cùng có dấu của nó nơi trán và nơi tay,
9 Tounamatar baitounin i’ufunun tit fanan aumetawat na’in eo, “Orot yait sawaidab nakwafir naatu i ana itininabe auman nakwafir, ana ewow nibasit nab ukwarin o umanamaim na’uh nama’am,
10 sẽ phải uống rượu phẫn nộ của Thượng Đế đã được pha rất mạnh trong ly của Ngài. Người ấy sẽ bị khốn khổ trong lửa diêm sinh trước mặt các thiên sứ thánh và Chiên Con.
10 i boro God ana yaso’ar wine natom. Nati wine i ana fairin tutufin etei yaso’ar kerowasamaim isuwei’ika ebatabat! O boro sulfur wanawanan inarun na’arah na’arfufuri biyababan gagamin maiyow tounamatar kakafiyih naatu Lamb bairi nahimaim inab.
11 Khói của sự khốn khổ họ sẽ bốc lên cho đến đời đời. Dù ngày hay đêm sẽ không có lúc nào nghỉ ngơi cho những kẻ thờ con vật, thờ tượng nó hay có ghi dấu của tên nó trên người.”
11 Naatu fai mar biyababan bai’akir ana sow boro wanatowan, wanatowan na’in nayen, auyit o gugumin biyah tubaiwa’an isan ana veya men ta ema’am. Sawaidab ana kwafirenayah, naatu i ana yumatabe kwafirenayah na’atube sabuw iyab hibasit wabin ana ewow hibaib iti biyababan boro fai mar hinab.”
12 Như thế nghĩa là dân thánh của Chúa phải nhẫn nhục. Họ phải vâng mệnh lệnh của Thượng Đế và giữ vững niềm tin nơi Chúa Giê-xu.
12 God ana sabuw iti tur i kwanab, yatenanub nawainabi God ana obaiyunen tur kwanabukikin Jesu isan kwanabosunusunub.
13 Sau đó tôi nghe tiếng từ trời nói rằng, “Hãy viết đi: Phúc thay cho những người từ nay về sau chết trong Chúa.”
13 Imaibo maramaim fanan ta eo anowar, “Iti kukirum: sabuw iyab Regah wabinamaim himomorob boun ana veya ebubusuruf boro baigegewasin hinab.”
14 Sau đó tôi nhìn thì trước mặt tôi có một đám mây trắng, trên mây có ai giống như Con Người đang ngồi. Đầu Ngài đội mão triều thiên vàng, tay Ngài cầm lưỡi liềm bén.
14 Imaibo anuw naatu nou’umaim wakasakas kwes aitin, tafanamaim Orot Natun ana itininabe, ukwarinamaim kowas gold naatu umanamaim i fafour ana kaifut auman.
15 Có một thiên sứ nữa từ đền thờ đi ra kêu lớn cùng Đấng ngồi trên mây rằng, “Hãy lấy lưỡi liềm của Ngài mà gặt hái đất vì mùa gặt đã đến, trái trên đất đã chín.”
15 Naatu tounamatar ta Tafaror Barene tit orot nati wakasakas tafan ma’am isan fanan aumetawat na’in e’af, “A Kaifut kubai naatu masaw kufour, anayabin fourin ana veya i natit, tafaram i iyamur fourinamih.” Fafour ana kaiy|alt="sickle" src="cn02109B.tif" size="col" loc="Rev 14.15-19" copy="©1978 David C. Cook Publishing Co." ref="14.15-19"
16 Đấng ngồi trên mây liền vung lưỡi liềm xuống đất thì cả đất được gặt hái.
16 Naatu orot nati wakasakas tafan ma’am ana kaifut tafaram tafanamaim i’asakan naatu tafaram tutufin etei four.
17 Rồi một thiên sứ khác từ đền thờ trên thiên đàng đi ra, cũng cầm lưỡi liềm bén.
17 Tounamatar tabo maramaim Tafaror Barene titit aitin, umanamaim i ana kaifut wan so’arin auman.
18 Một thiên sứ khác nữa có quyền trên lửa, từ bàn thờ đi ra. Thiên sứ nầy gọi thiên sứ có lưỡi liềm bén rằng, “Hãy lấy lưỡi liềm bén của ngươi gặt các chùm nho trên đất vì nho đã chín rồi.”
18 Iban maiye tounamatar ta wairaf ana kaifayan sibor ana gemane tit, naatu fanan aumetawat na’in e’af tounamatar uman ana kaifut wan so’arin bai batabat isan eo, “A kaifut wan so’arin kubai tafaram ana masaw yan grape umah ku’afuwen kwita’ay, anayabin grape i hiwu.”
19 Thiên sứ liền vung lưỡi liềm trên đất. Người gom hết nho trên đất và ném vào máy ép nho lớn của cơn thịnh nộ Thượng Đế.
19 Tounamatar ana kaifut kamar tafanamaim iasakan grape ro’oro’oh e’afuw hira’iy bow ta’asiyen God ana yaso’ar wine bunubunuw wanawanan hira’iy.
20 Nho bị chà đạp trong máy ép bên ngoài thành và máu chảy ra từ máy ép dâng lên đến cổ ngựa dài khoảng ba trăm cây số.
20 Naatu wine ana bunubunuw bar merar gagamin ufunane hibun fesafesaren, rara wine ana bunubunuwane titit i harew titit na’atube re nunuw in 300 kilometres na’atube naatu ana taiy i sika kabokabom ana fofonin o kafa’imo 2 metres bai.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Apocalipse 14, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.