Apocalipse 13
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Sau đó tôi thấy một con vật từ biển lên. Nó có mười sừng và bảy đầu, mỗi sừng có một mão triều. Trên mỗi đầu có viết một danh phạm thượng.
1 Naatu sawaidab riyanane yey aitin, ukwarin etei seven naatu ana rarag etei ten, rarag tafahimaim kowas etei ten yara’aten, naatu ukwarin ta’ita’imon kowas tafahimaim wab kakafih maiyow, baigigimen tur God isan hio hikirumen.
2 Nó giống như con beo, chân như chân gấu và miệng như miệng sư tử. Con rồng cho nó mọi quyền thế và ngôi.
2 Sawaidab ana itinin i tiger ana yumatabe, baise an i bear an, naatu awan i lion awan. Farubarubar ana fair, ana urama’ama naatu ana roubabaruwen fair etei sawaidab itin.
3 Một trong những đầu của con vật trông giống như đã chết vì một vết thương nhưng được chữa lành, cho nên cả thế giới kinh ngạc và đi theo nó.
3 Naatu iti sawaidab ukwarin ta hirab taseb gawud matar, baise na kafuw maiye, tafaram wanawanan sabuw etei iti ina’inan matar hinonowar hifofofor men kafaita naatu sawaidab hi’ufunun.
4 Dân chúng thờ lạy con rồng vì con rồng đã cấp quyền phép cho con vật. Họ cũng thờ lạy con vật và nói rằng, “Ai giống như con vật? Ai tranh chiến với nó được?”
4 Orot etei farubarubar hikwafir anayabin roubabaruwen ana fair etei sawaidab itin, naatu sawaidab auman hikwafir hio, “Yait i sawaidababe? Yait boro nibabarafut hairi hiniyow?”
5 Con vật được phép nói những lời xấc xược và phạm thượng. Nó được dùng quyền lực của nó trong bốn mươi hai tháng.
5 God ma itinimo sawaidab misir ora’ara’at tur naatu baigigimen gagamin maiyow God igigim naatu roubabaruwen ana fair itin sumar 42 wanawanan sabuw bonawiyih.
6 Nó dùng miệng nói phạm thượng, phạm đến danh Ngài, nơi Ngài ngự và phạm đến mọi người sống trên thiên đàng.
6 Nati ana veya’amaim awan kerer baigigim gagamin maiyow God iu igigim. Wabin auman igigim na’atube ana ma’ama efan naatu sabuw iyab maramaim hima’am auman iuwih igigimih.
7 Nó lại được cấp cho quyền gây chiến với các thánh đồ và thắng họ. Nó được ban quyền trên mọi chi tộc, mọi dân, mọi thứ tiếng và mọi nước.
7 Naatu God iban fair sawaidab itin God ana sabuw rouw wastatanen isan. Naatu roubabaruwen ana fair itin big ta ta, biyah ta ta, tur ta ta, tafaram ta ta wanawananamaim bonawiyih isan.
8 Mọi người trên đất sẽ thờ lạy con vật tức là tất cả những người từ thuở sáng thế mà không có tên trong sách sự sống của Chiên Con. Chiên Con là Đấng đã bị giết.
8 Sabuw tafaram wanawanan etei boro sawaidab hinakwafir, baise sabuw iyab tafaram matara’e ana veya wabih wanatowan ana bukamaim hikikirum boro men hinakwahir, nati buk i Lamb marasika hi’a’asabun nowan.
9 Ai có tai nghe, hãy lắng nghe:
9 “Imih o yait tain nama’am na’at inanowar gewas.
10 Nếu số ai phải bị cầm tù
10 Yait dibur yara’iyinamih ema’am boro hinayara’iy, yait kaiyomaim yinamih ema’am boro hinay namorob. Imih God ana sabuw kakafiyih iti afa’af hibaib i yateh nanub bosunusunubamaim nawainabih.”
11 Rồi tôi thấy một con vật khác từ đất lên. Nó có hai sừng giống như chiên con nhưng tiếng nói giống như con rồng.
11 Imaibo sawaidab tabo me wanawanan taseb yey aitin, ana rarag rou’ab Lamb ana rarag na’atube, baise ana tur eo i farubarubar eo’obe.
12 Con lên sau đứng trước mặt con thứ nhất và dùng đủ quyền giống như con trước. Với quyền ấy nó bắt mọi người sống trên đất phải thờ lạy con vật đầu tiên tức con vật có vết thương suýt chết nhưng được lành.
12 Naatu sawaidab wantoro’ot ana obababaruwen fair hibitin etei i iti sawaidab me’ene yey i ia’ait, naatu tafaram tutufin etei na’atube sabuw tutufin etei eo kikinih sawaidab wan hirab ana fit kakafuw i hikwafir.
13 Con vật thứ nhì còn làm nhiều phép lạ lớn, đến nỗi nó có thể khiến lửa từ trời rơi xuống đất trước mắt mọi người.
13 Sawaidab bairou’abin ina’inan gagamih sinaf naatu ina’inan afa fokarih men tasisinaf i sinafen, naatu eo wairaf marane ra’iy sabuw etei matah yan hi’itin.
14 Nó phỉnh gạt dân cư trên đất bằng những phép lạ mà nó được phép làm. Nó dùng phép lạ để phục vụ con vật trước. Con vật thứ nhì còn bắt người ta tạc tượng thờ con vật trước, tức con vật bị thương vì lưỡi gươm giết hại nhưng vùng sống lại.
14 Ina’inan sisinafumaim, fair hitin tafaram ana sabuw moumurih na’in ifufuwih bow sawaidab wan nan isan, naatu sabuw iuwih sawaidab wan na hirab morob yawas maiye ana feher kakafuw ana yumatabe hitar.
15 Con vật thứ nhì còn có quyền ban sự sống cho tượng của con vật trước để tượng nói được. Tượng ấy còn có quyền ra lệnh giết những người không chịu bái lạy nó.
15 Fair hitin sawaidab wan nan ana yumatabe ai’imaim hitar ara’ar tainen ana waruw itin, saise tamisir tur tao, naatu sabuw iyab i ana yumatabe ai’imaim hitaritar men hikwakwafir tarouw hitamorob.
16 Nó còn buộc mọi người lớn nhỏ, giàu nghèo, tự do hay nô lệ phải ghi dấu trên tay mặt và trên trán.
16 Naatu sabuw etei eokikinih. Sabuw gagamih, gidigidih, guguw wairafih, men guguw wairafih, roufamen sabuw, akir sabuw, etei umah asukwafune o ukwarihimaim ana ewow baitih isan eo,
17 Không ai có thể mua bán gì nếu không có dấu đó tức tên con vật hay mã số của tên nó.
17 saise orot babin yait sawar etotobon o sawar yataiten tetotobon i sawaidab ana ewow nabaibo, nati ewow i wabin o ana number.
18 Phải cần khôn ngoan để hiểu điều nầy. Người nào khôn ngoan hãy tìm hiểu ý nghĩa con số, tức con số của một người. Số đó là sáu trăm sáu mươi sáu.
18 O yait ukwar rerekab isa nama’am boro sawaidab ana number iniyab yabin inaso’ob. Anayabin iti i orot wabin, naatu ana number i 666.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Apocalipse 13, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.