2 Coríntios 9
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Thật ra tôi không cần viết cho anh chị em về vấn đề giúp đỡ các con dân Chúa.
1 God ana sabuw tafaram Judea tema’am isah siwar kwayai kwabiyafar isan, aisim a fef anakirum a tur ana’owen.
2 Tôi biết anh chị em muốn giúp đỡ. Tôi đã từng khoe với các anh chị em ở Ma-xê-đoan là các anh chị em miền Nam Hi-lạp đã sẵn lòng giúp đỡ từ năm ngoái. Và lòng mong muốn dâng hiến của anh chị em khích lệ hầu hết các anh chị em khác.
2 Anayabin ayu aso’ob kwa Akaiya sabuw a baibais isan mar etei biya emimisir. Masedonia baitumatumayah i ufut kwamur hibogaigiwas hibusuruf teyai’iyi, iti na’atube ao hinonowar anamaramaim sabuw moumurihika yah viri iwa’an hiyai.
3 Nhưng tôi gởi các anh em kia đến trước để cho thấy những lời khoe của chúng tôi về anh chị em không phải trống rỗng. Tôi muốn anh chị em sẵn sàng theo như điều tôi nói.
3 Baise ata ofonah nah tounu kwa isa aiyunih tenan, anayabin ayu men akokok ai baifa’en kwa isa yabin en namatar. Ana maramaim ayu anan kwa biya anatitit, ayu akokok nati siwar i kwanayabuna na’inu’in anatit. Saise ayu au tur Masedonia isah ao’o niturobe.
4 Vì nếu người nào từ tôi hay từ Ma-xê-đoan đến mà thấy anh chị em không sẵn sàng thì chúng tôi sẽ ngượng vì chúng tôi cứ yên trí anh chị em đã chuẩn bị rồi. Dĩ nhiên anh chị em cũng ngượng nữa.
4 Asir ayu Masedonia sabuw bairi ananan na’at, kwa siwar men kwayabuna kwama’am it boro biyat na’ohow, anayabin kwa abifai men matar.
5 Cho nên tôi nhờ các anh em ấy đến với anh chị em trước chúng tôi. Các anh em đó sẽ chuẩn bị món quà rộng rãi mà anh chị em đã hứa, để khi chúng tôi đến thì mọi việc đã sẵn sàng. Và cũng để cho thấy đó là món quà tự nguyện chứ không phải miễn cưỡng.
5 Isan imih ayu anotanot tuwatanah orot nah tounu boro ana’uwih au nou hini’iyon hinan hinibaisi kwanayabuna siwar o’on isan, sinafumih kwa’omatan na’atube. Imaibo ayu anan biya ana titit kwa siwar i kwa’o’on kwayabuna sawar kwama’am. Naatu sabuw boro hinaso’ob kwa siwar yai’in isan i dogor tutufin etei kwaitin kwayai men sabuw hi’ukikini kwaya’imih.
6 Nên nhớ điều nầy: Ai gieo ít thì gặt ít, ai gieo nhiều thì gặt nhiều.
6 Iti tur a notamaim nama. Orot yait masaw teten ebob boro momurih nafour naatu orot yait masaw kukuf ebob boro kikimin nafour.
7 Mỗi người nên tùy lòng mình mà dâng. Đừng dâng một cách miễn cưỡng hay gượng ép, vì Thượng Đế yêu người vui lòng dâng hiến.
7 Orot babin ana notamaim bai’ab
8 Ngài có thể cho anh chị em dư dả ân phúc để có thể dâng hiến cho các việc thiện.
8 Naatu o abistan kukokok God i boro nit baise gagaminaka nakarsuwei nit. Saise mar etei o isa sawar etei i nakaram inama naatu o aur i ra’at kwanekwan, imih o karam bowabow gewasih boro inabow.
9 Như Thánh Kinh chép,
9 Na’atube Buk Atamaninamaim eo,
10 Thượng Đế là Đấng cấp hột giống cho người làm ruộng, cho bánh làm thức ăn. Ngài sẽ cho các anh chị em đủ hột giống để gieo, khiến những hột ấy mọc lên và trúng mùa do lòng tốt của anh chị em.
10 God mar etei masaw bowayan ub ebitin naatu bay ebitin imih i karam ub kukokok boro nit. Naatu niwa’an hinakubounih hinayen naatu o akaifen gewasinamaim boro moumurihika inafour.
11 Ngài sẽ làm cho anh chị em được giàu có mọi mặt để anh chị em có thể dâng hiến rộng rãi. Và sự dâng hiến của anh chị em qua chúng tôi sẽ khiến cho nhiều người dâng lên lời cảm tạ Thượng Đế.
11 God boro mar etei o isa nasinaf aur sawar nakaram, saise sabuw moumurin na’in boro inibaisih. Isan imih sabuw moumurin God boro ana merar hinay, anayabin kwa a siwar kwaiyafar in hibaib isan.
12 Sự giúp đỡ của anh chị em không những cứu giúp những con dân Chúa đang túng thiếu mà còn khiến cho nhiều người tạ ơn Thượng Đế.
12 Bowabow iti na’atube kwasisinaf i men God ana sabuw akisih kwabibaisihimih, baise sabuw afa auman kwabibaisih imih sabuw moumurih maiyow God ana merar teyiy.
13 Đó là bằng cớ của đức tin anh chị em. Nhiều người sẽ ca ngợi Thượng Đế vì rằng anh chị em vâng theo Tin Mừng của Chúa Cứu Thế—Tin Mừng mà anh chị em tin nhận—vì anh chị em chia xẻ rộng rãi với họ cùng tất cả mọi người khác.
13 Anayabin iti bowabow kwa taiyuw kwa’itin kwaso’ob sabuw boro God hinifai. Anayabin kwa bowabowamaim boro niturobe kwa kwabitumatum naatu nati’imaim sabuw moumurin maiyow hina’itin, God ana merar hinay. Anayabin Keriso ana Tur Gewasin isan kwabosiyasiyar kwao kwabibinan. Naatu dogoroh tutufin etei kwafafarambonen. Naatu sabuw afa bairi kwafafaram etei kwao kwaibasit siwar kwayai, naatu sabuw etei auman. God ana merar hinay,
14 Khi cầu nguyện, họ sẽ ao ước được ở chung với anh chị em vì ân phúc lớn lao mà Thượng Đế đã cho anh chị em.
14 naatu hai yoyoban o isa i dogoroh wanawananika tit enan, anayabin God ana baigegewasin iwanasum kuma’am.
15 Cảm tạ Thượng Đế vì ân phúc Ngài ban cho không bút nào mô tả được.
15 God ana merar tanay i ana siwar isan tanao tanan men karam.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar 2 Coríntios 9, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.