2 Coríntios 5
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Chúng ta biết khi thân xác nầy—tức cái lều tạm mà chúng ta đang sống trên đất nầy—bị tiêu hủy thì Thượng Đế sẽ cho chúng ta một nhà khác không do tay người xây nên, là nhà còn đời đời trên thiên đàng.
1 Anayabin it taso’ob iti tafaram ana sisimaim tama’am, hinagurus hinayayare maramaim God i sis ta wowabika ma’ama wanatowan ana sis, men orot umahimaim hiwowabimih.
2 Hiện tại chúng ta đang rên rỉ trong lều tạm nầy. Chúng ta mong Thượng Đế cho chúng ta nhà trên thiên đàng,
2 Mar kafai it mar ana faifuw usin isan tama tanunu’afe’af.
3 vì ở trong nhà ấy chúng ta sẽ không bị trần truồng.
3 Anayabin mar ana faifuw tana’usi’us, it boro men segar tanama’am hina’ititamih.
4 Trong khi đang sống trong thân xác nầy chúng ta rên rỉ dưới gánh nặng. Chúng ta không muốn bị trần truồng nhưng chúng ta mong được mặc lấy nhà trên thiên đàng. Lúc ấy thân xác chết nầy sẽ được mặc lấy sự sống.
4 Iti sis wanawanan tama’am i mabitit tanunu’afe’af. Anayabin men takokok segar tanama, baise takokok mar ana faifuw tana’us saise imaim nabotabirit tanan ma’ama wanatowan ana biyan tanab.
5 Vì thế mà Thượng Đế dựng nên chúng ta và Ngài cũng đã cho Thánh Linh làm vật bảo đảm cho sự sống mới ấy.
5 God akisinamo isat iti bar yabuna naatu Anunin Kakafiyin it itit, sawar abistanawat aurin tema’am boro tanabow.
6 Cho nên chúng tôi rất bạo dạn. Chúng tôi biết rằng khi còn sống trong thân xác nầy thì cách xa Chúa.
6 Isan imih mar etei fair tabai, biyat ana baremaim tama’am i taso’ob, Regah i taihamiy nabinika ebabat.
7 Chúng ta sống bằng đức tin, không phải bằng mắt thấy.
7 Anayabin it baitumatumamaim tama tabowabow men matat yan ta’i’itinimih.
8 Vì thế mà tôi nói, chúng tôi rất bạo dạn. Chúng tôi rất muốn rời bỏ thân xác nầy để về nhà với Chúa.
8 Ayu ao’o, it mar etei fair tabai naatu it takokok kwanekwan iti tafaram ana bar i tanihamiy naatu tanan Regah ana baremaim bairit tanama.
9 Dù ở đây hay ở thiên đàng, mục đích duy nhất của chúng tôi là làm vui lòng Thượng Đế.
9 Isan imih ata dubir tanayai Regah niyasisir, iti tafaram ana baremaim tama tanabow o nainamaim tama tabowabow.
10 Tất cả chúng ta đều sẽ trình diện trước Chúa Cứu Thế để chịu xét xử. Mỗi người sẽ nhận lãnh điều mình đáng lãnh do những việc tốt hay xấu mình làm trong thân xác nầy.
10 Anayabin it etei’imak boro Keriso ana urama’ama nanamaim tanabat naatu i boro nibabatiyit abistan biyatamaim tama tasisinaf isan ta’ita’imon ata baiyan boro nitit, kakafin tasisinaf kakafin tanab gewasin tasisinaf gewasin tanab.
11 Vì kính sợ Chúa nên chúng tôi tìm cách thuyết phục mọi người biết sự thật. Thượng Đế hiểu rõ chúng tôi và tôi tin rằng trong thâm tâm anh chị em cũng hiểu rõ chúng tôi nữa.
11 Aki Regah abibiruw ana’an i aso’ob. Naatu aki akokok anabow sabuw ananatabirih. God aki su’ubi gewas, naatu ayu anotanot kwa dogor wanawanan anot ayu isou auman kwanotanot.
12 Chúng tôi không cần tự khoe với anh chị em lần nữa, nhưng muốn tìm cách cho anh chị em biết để anh chị em có thể tự hào về chúng tôi. Như thế anh chị em có thể đối đáp với những kẻ chỉ khoe về bề ngoài mà không có trong lòng.
12 Aki men taiyuwai isai a’o’ora’atamih. Baise ayu akokok kwa aki isai kwani’o’orot kwanao’ora’ara’at, saise sabuw iyab aki biyai ufun ana itininamaim hina’itin isai hina’o’ora’ara’at, kwa karam sabuw hai tur boro kwana’owen.
13 Nếu chúng tôi điên rồ, là vì Chúa. Nếu chúng tôi tỉnh táo, là vì anh chị em.
13 Aki tur ana’okwanekwan na’at, nati i God isan naatu tur mutufur ana’o na’at nati i kwa isa.
14 Tình yêu Chúa Cứu Thế ngự trị trong chúng tôi nên chúng tôi tin Đấng đã chết vì mọi người để tất cả chúng ta đồng chết.
14 Anayabin Keriso ana yabowamaim aki sabuw abuwih arurumutufurih, saise hinaso’ob sabuw etei isah orot ta’imon morobo, imih sabuw etei himorob.
15 Chúa Cứu Thế chết vì mọi người để những người sống không còn vì mình mà sống nữa. Ngài chết thay cho họ và sống lại từ kẻ chết để từ nay trở đi, họ sẽ sống cho Ngài.
15 Naatu sabuw etei isah Keriso morob, imih sabuw iyab yawas hibai tema’am i men taiyuwih hai kokokomaim hinama’amih, baise Keriso ana kokokomaim hinama. Anayabin i isah morob naatu morobone misir maiye.
16 Từ nay về sau chúng tôi không còn suy nghĩ theo cách thế gian nữa. Trước kia chúng tôi suy nghĩ về Chúa Cứu Thế theo cách thế gian nhưng nay chúng tôi không suy nghĩ về ai theo cách ấy nữa.
16 Isan imih, aki boun ana veya, yait ta iti tafaram ana yawasamaim ema’am aki men i a’i’i’tinimih. Turobe veya ta Keriso isan na’atube anot i tafaram ana yawasamaim ma arouw a’o, boun i men kafa’imo nati na’atube anotanotamih.
17 Nếu ai thuộc về Chúa Cứu Thế thì người ấy là một người mới. Mọi việc cũ đã qua đi hết; hiện giờ mọi việc đều đã đổi mới!
17 Isan imih, yait Keriso hairi hinabitubonen na’at, i isan yawas boubun matar yawas atamanin na’am sa’iwa’an, naatu yawas boubun busuruf ebowabow.
18 Đó là do Thượng Đế thực hiện. Qua Chúa Cứu Thế, Thượng Đế đã làm cho chúng ta giảng hòa lại với Ngài; đồng thời Ngài giao cho chúng ta nhiệm vụ rao cho mọi người biết về sự giảng hòa mà chúng ta hiện đang có với Ngài.
18 Sawar tutufin etei i God esisinaf, naatu it rakit sabuw tamatar tama’am Keriso’omaim botabirit tana i ana tounuw sabuw tamatar. Naatu boun anamaramaim it sabuw etei ana ofonah matar isan ana bowabow itit.
19 Thượng Đế ngự trong Chúa Cứu Thế và giảng hòa thế gian lại với Ngài. Trong Chúa Cứu Thế, Thượng Đế không còn kết tội thế gian nữa. Ngài giao cho chúng ta nhiệm vụ giảng hòa nầy.
19 It ata tenaya tur. Keriso’omaim God sabuw botabirih etei hina i ana ofonah himatar. Sabuw hai kakafih inatbuhuruwen naatu notawiyen naatu kob abarayah hitit sabuw hai tur hi’owen tibibinan mi’itube God bairi bai’of isan.
20 Chúng tôi được sai rao giảng về Chúa Cứu Thế như thể Thượng Đế đã nhờ chúng tôi kêu gọi anh chị em. Khi chúng tôi nài xin anh chị em giảng hòa lại với Thượng Đế là chúng tôi nói thay cho Chúa Cứu Thế.
20 Imih aki Keriso oukoun abatabat, sabuw etei aki wanawana’imaim kwama’am imih aki God isan afefefeyan. Kwa God ana rakit kwanama’am na’at kwanatatabir ana ofonah kwanamatar.
21 Chúa Cứu Thế vốn không có tội lỗi nhưng Thượng Đế đã khiến Ngài trở nên tội lỗi vì chúng ta để nhờ Ngài mà chúng ta có được các đức tính của Thượng Đế.
21 Keriso i men bowabow kakafin ta sinaf, baise it isat kakafin eabar, imih it tanan Keriso bairit tanitubonen tanan God ana roumutuforenamaim tanama.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar 2 Coríntios 5, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.