1 Pedro 3
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Cũng vậy, vợ phải vâng phục chồng mình, để nếu có người chồng nào không vâng theo lời dạy của Thượng Đế thì sẽ được cảm hóa do nếp sống của người vợ, không cần ai khuyên bảo.
1 Baibin, a’aaw oro’orot fanah kwanab kwanayara’iyi babahimaim kwanama, saise a’aaw oro’orot God ana tur gewasin men nabitumitum boro kwa ayawas gewasinamaim dogoron kwanikitabir hinan baitumatumayah hinamatar. Men kwa a turamaim baise kwa a yawas ana itininamaim.
2 Chồng của các chị em sẽ thấy nếp sống tinh sạch và kính sợ Thượng Đế của chị em.
2 Anayabin kwa ayawas ana itinin i uhewbitan.
3 Vẻ đẹp của chị em không phải do làm tóc, đeo nữ trang vàng bạc, hoặc mặc áo quần lòe loẹt đâu.
3 Kwa baibin men taiyuw biya ufunane ana itininamaim kwaniwa’an kwanan sa’er kwanamatar, arib a baisuwaramaim, tain tenasour o debad ya’amaim, o faifuw osenamaim. Nati sa’er boro men nama manin.
4 Vẻ đẹp của chị em là do bề trong—một cái đẹp thùy mị, dịu dàng và tâm thần bình thản không bao giờ tiêu mất mới quí báu trước mặt Thượng Đế.
4 Baise nati efanin, kwa a yawas wanawanan ana sa’er hina’i’itin i tufuw nuwarob naatu yara’iyen. Sa’er iti na’atube God i’itin i ra’at naatu igewasin kwanekwan.
5 Các nữ thánh xưa cũng sống như thế, nhờ tin cậy Thượng Đế, vâng phục chồng mình mà họ trở nên đẹp.
5 Marasika baibin iyab kakafiyinamaim hima’am, i hai nuhifot God biyanamaim hiyei sa’er himatar, anayabin i a’aawah oro’orot babahimaim hima.
6 Sa-ra vâng phục Áp-ra-ham, chồng mình, gọi ông là chủ mình. Chị em sẽ là con cháu thật của Sa-ra nếu chị em luôn luôn làm điều phải, không sợ hãi gì.
6 Babin Sarah i nati na’atube ma, Abraham fanan bosiyasiyar naatu ana regah rouw eaf. Kwa i Sarah natunatun, kwa gewasin kwanasisinaf na’at, boro men abisa ta isan kwanabir.
7 Ngược lại, chồng cũng phải thông cảm vợ vì vợ yếu đuối hơn mình. Hãy biết quí trọng vợ, vì nàng cũng được thừa kế phần ân phúc của sự sống, để không có gì cản trở sự cầu nguyện của anh em.
7 Kwa oro’orot auman a’aaw baibin kwanasu’ubih gewas bairi kwanama, baibin i ririmih men boun kwa fair kwabai kwama’am na’atube. Isah sinafumih erekakaf kwanasinaf, anayabin wanatowan ana siwar God nabit, i auman boro bairi nafarami. Nati na’atube kwanasisinaf ayoyobanamaim boro men sawar ta a ef nahirimih.
8 Sau hết, tất cả các anh chị em phải sống hòa thuận với nhau, thông cảm nhau, yêu thương nhau như người trong gia đình, hãy nhân từ và khiêm nhường.
8 Abistan anotanot yomaninamaim anao kwananowar auman anisawar. Kwa turanah bairi anot ta’imon, ananiyan ta’imon; sabuw bairi kwaniyabow tait ruburub na’atube, naatu turanah isah kwanayara’iyi naatu kwananot yawananih.
9 Đừng lấy ác trả ác, lấy sỉ nhục trả sỉ nhục, nhưng hãy đáp lại bằng lời chúc phước vì anh chị em được kêu gọi phải đối xử với mọi người như thế để nhận được ân phúc.
9 Tur kakafin hina’u’uwi o hinao’orarafi men wan kwanay, baise nati efanin baigegewasinamaim wan kwanay, anayabin baigegewasin i God eomatani boro nit ana maramaim kwa na’a’afi.
10 Thánh Kinh viết,
10 Anayabin Buk Atamaninamaim iti na’atube hikirum hi’o,
11 Phải tránh điều ác, theo đuổi điều thiện.
11 Sinaf kakafin nihamiyen natatabir gewasin nasinaf,
12 Mắt Chúa trông chừng người nhân đức,
12 Anayabin sabuw hai yawas mutufurin Regah ekakaifih,
13 Nếu anh chị em cố gắng làm lành thì ai có thể hại anh chị em được?
13 Bowabow gewasin kwanasisinaf isan yait boro kwa ni’a’afiyi naborabirabi?
14 Nhưng nếu anh chị em chịu khổ vì làm điều phải thì anh chị em có phúc. “Đừng sợ điều họ sợ; đừng kinh hãi vì những điều ấy.”
14 Baise gewasin kwasisinaf isan kwanabi’akir, kwa i boro baigegewasin kwanab, imih men yait ta isan kwanabir naatu kwaniyababan.
15 Hãy tôn Chúa Cứu Thế làm thánh trong lòng mình. Luôn luôn sẵn sàng trả lời bất cứ người nào yêu cầu anh chị em giải thích về hi vọng của mình,
15 Baise Keriso isan yatenanub dogor tutufin etei kwanab naatu Regah na’atube isan kwanakakafiy kwanakwafir.
16 hãy trả lời một cách ôn hòa, lễ độ. Hãy giữ lương tâm cho trong sạch để những kẻ chê bai nếp sống tốt đẹp của anh chị em trong Chúa Cứu Thế cảm thấy xấu hổ.
16 Baise sabuw isah yara’iyen naatu kakafemaim kwanasinaf. A not gewasinamaim iu’uwi mar etei imaim kwanasinaf, saise ubar hinabit ana maramaim sabuw iyab Keriso ana gewasin isan tur kakafih hina’u’uwi boro hai tur isan biyah na’ohow.
17 Thà chịu khổ vì làm lành còn hơn chịu khổ vì làm ác, nếu đó là ý muốn Thượng Đế.
17 Anayabin God ana kok gewasin kwanasisinaf isan kwanabi’akir, i gewasin maiyow, naatu kakafin kwanasisinaf isan kwanabi’akir i men gewasin.
18 Chính Chúa Cứu Thế đã chịu khổ khi Ngài chịu chết vì anh chị em. Nhờ sự chết ấy Ngài đền tội cho anh chị em. Ngài là Đấng vô tội, nhưng đã chịu khổ thay cho kẻ có tội để đưa anh chị em về với Thượng Đế. Thân thể Ngài chịu giết nhưng đã được sống lại nhờ Thánh Linh.
18 Anayabin sabuw etei hai kakafin isan Keriso mar ta’imon morob, sabuw gewasih naatu sabuw kakafih isah, saise tabonawiyit tatan God nanamaim tatatit. Biyan i morob, baise ayubin i yawasin.
19 Và nhờ Thánh Linh, Ngài đi loan báo sự đắc thắng của Ngài cho các linh hồn trong tù,
19 Naatu Anunin na sabuw murubih ayubih ana diburamaim hiya hima’am isah binan.
20 là những người không vâng phục Thượng Đế từ xưa lắm, vào thời Nô-ê. Trong khi Nô-ê đóng tàu thì Thượng Đế kiên nhẫn chờ đợi. Thế mà chỉ có vài người—tất cả chỉ có tám người—được cứu qua nước mà thôi.
20 Iti sabuw i Noah ana wa wowowab ana veya, ayubihine God fanan hisair, baise God yaten nub ma sabuw etei eight buwih wa wanawanan hirun gis yey ana veya, harew wanane tafafarih hima.
21 Nước ấy cũng giống như phép báp-têm ngày nay cứu rỗi anh chị em—không phải rửa sạch thân thể nhưng là lời cam kết với Thượng Đế để sống bằng lương tâm trong sạch. Được như thế là nhờ Chúa Cứu Thế Giê-xu đã sống lại từ trong kẻ chết.
21 Naatu iti harew i bapataito ana i’inanen boun imaim kwa iyawasi. Men biya kato ekukusouw, baise not gewasin iuwi God kwa’o’omatan isan. Jesu Keriso morobone mimisir imaim kwa iyawasi.
22 Nay Ngài đã trở về thiên đàng, ngồi bên phải Thượng Đế và đang cai quản các thiên sứ, các bậc cầm quyền và mọi thế lực.
22 Naatu yen au mar naatu God ana asukwafune mare ema’am, tounamatar etei naatu mar hai fair hai roubabaruwen etei i babanamaim ebobonawiyih.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar 1 Pedro 3, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.