1 Pedro 2

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Cho nên hãy dẹp khỏi anh chị em mọi điều gian ác, mọi thứ dối trá, giả hình, ganh tị và lời hiểm độc.
1 Isan imih yawas kakafih boro kwanihamiyen. Men kwanifuwen, men awa hinaharewan, men kwanibobowen, men turanah isah tur kakafin kwanao.
2 Như trẻ sơ sinh cần sữa, anh chị em hãy ham thích sự dạy dỗ thiêng liêng trong sạch. Nhờ đó anh chị em sẽ lớn lên và được cứu,
2 Kek sosof na’atube kwanamatar, mar etei sika namamah ayub ananun tom isan, saise i kwanatomatom kwa ayawas boro nara’at nayen.
3 vì anh chị em đã nếm biết Chúa rất tốt lành.
3 Buk Atamaninamaim hi’o hikirum, “Kwa taiyuw ayawasamaim kwaso’ob Regah i kabeberayan.”
4 Hãy đến cùng Chúa Giê-xu là “tảng đá” sống. Người thế gian gạt bỏ tảng đá ấy nhưng Ngài là tảng đá đã được Thượng Đế chọn lựa, vô cùng quí giá.
4 Kwana ata Regah biyanaika kwanama, iti kabay yawasin sabuw hi’itin hikwahir yabin en hirouw, baise God rubin na mokob foun matar.
5 Hãy làm những tảng đá sống, xây đền thờ thiêng liêng—làm thầy tế lễ thánh, dâng của lễ thiêng liêng cho Thượng Đế. Ngài sẽ nhận các của lễ ấy qua Chúa Cứu Thế Giê-xu.
5 Kwa baitumatumayah i wabat wanatowanin na’atube, imaim God bai ayub ana Tafaror Bar ewowowab. Kwa auman i firis ana kou’ay ayubitane ana sibor kwaya’ay. Jesu Keriso ana baibaisamaim, God i iyasisir ebaib.
6 Thánh Kinh viết,
6 Buk Atamaninamaim iti na’atube hikirum,
7 Tảng đá ấy rất quí báu đối với anh chị em là người tin. Nhưng cho những kẻ không tin thì,
7 Kwa iyab kwabitumitum, Keriso i kabay gewasin kwa isa, baise kwa iyab men kwabitumitum isa boro men gewasin.
8 Ngoài ra, Ngài là
8 Naatu ibanak Buk Atamaninamaim hikirum hio,
9 Nhưng anh chị em là dân được lựa chọn, giữ chức tế lễ nhà vua, là dân thuộc riêng về Thượng Đế. Anh chị em được chọn để rao truyền những việc diệu kỳ của Ngài, Đấng đã gọi anh chị em ra khỏi chốn tối tăm để bước vào ánh sáng huyền diệu của Ngài.
9 Baise kwa i God ana rubinen sabuw, kwa i firis gewas, God ana sabuw kakafiyi, naatu God nowan, imih God ana bowabow gewasin kwanaorereb, anayabin guguminamaim kwama’am botaiti kwatit marakaw bonamanamarin gewasin kwabai.
10 Trước kia anh chị em không phải là một dân tộc nhưng nay anh chị em là con dân của Thượng Đế. Trước kia, anh chị em không nhận được lòng từ ái, nhưng nay anh chị em nhận ơn từ ái của Ngài.
10 Marasika kwa men God ana sabuw, baise boun kwa i ana sabuw. Marasika God ana kabeber men kwabai, baise boun i ana kabeber kwabai.
11 Các bạn yêu dấu ơi, anh chị em như kiều dân và lữ khách trên đất. Tôi khuyên anh chị em đừng sống theo ước muốn thế gian là những điều chống nghịch với linh hồn anh chị em.
11 Are au ofonah, kwa au’uwi kwa i nanawan naatu touman sabuw na’atube iti tafaramaim kwama’am! Men biya ana kok nabonawiyi imaim nakaifi. Nati biya ana kok i boun rakit na’atube, boro ayub hairi hiniyow.
12 Những kẻ không tin đang sống ở chung quanh anh chị em và vu khống rằng anh chị em là người gian ác. Hãy sống một cuộc đời đạo đức để họ thấy những hành vi đáng khen của anh chị em mà dâng vinh hiển cho Thượng Đế khi Ngài đến.
12 Eteni Sabuw matahimaim kwanakaifi gewas kwanama. Kwa isa boro bowabow kakafih sinafuyah hinarauw hinao, baise anamaramaim bowabow gewasin kwanasisinaf boro men isa tur ta hinao. Imih Baibatebat ana Veya God namamatabir. Kwa isa boro God ana merar hina hinabora’ara’ah.
13 Vì danh Chúa, mọi người hãy vâng lời các nhà cầm quyền trên thế gian: vua chúa là người có thẩm quyền tối cao,
13 Regah wabinamaim kwa kwayar’iy sabuw gagamih babahimaim kwanama. Gawan hai aiwob gagamin aiwob etei ukwarih,
14 và các quan quyền được vua sai đến để trừng phạt kẻ làm quấy và khen ngợi người làm phải.
14 gawan sabuw iyab gawan ana ukwarin iyafarih hitit tafaram ta ta tekakaif, imih iyab bowabow kakafin tesisinaf boro hinabow baimakiy hinitih, baise iyab bowabow gewasin tesisinaf boro hinabora’ara’ahih.
15 Ý muốn của Thượng Đế là khi anh chị em làm phải thì anh chị em bịt miệng những kẻ ngu dại để họ khỏi nói những điều ngu xuẩn về anh chị em.
15 God ekokok kwa kwanasinaf gewas saife nati sabuw hai not meyemeye, boro hinanutanubamo hinama, aurih ef men ema’am boro isa tur kakafih hinao.
16 Hãy sống như người tự do nhưng đừng lạm dụng tự do ấy để làm ác. Hãy sống như những tôi tớ của Thượng Đế.
16 Kwa ama i sabuw roufamen na’atube kwanama, baise men nati roufamen ana yawasamaim kwama’am isan afair kwanab kakafin kwanasinaf, baise kwa i God ana’akir wairafihibe kwanama.
17 Hãy tôn trọng mọi người: Yêu anh chị em, kính Thượng Đế, trọng vua.
17 Sabuw etei isah kwanakakaf. A ofonah baitumatumayah isah kwaniyabow kwanakakaf. Naatu aiwob hai ukwarin isan kwanakakaf.
18 Hỡi kẻ tôi tớ, hãy vâng phục quyền hành của chủ mình với lòng tôn kính. Không những chỉ vâng phục những người chủ tốt và nhân từ mà cũng phải vâng lời người chủ bất công nữa.
18 Kwa akir wairafi kakafemaim kwanayara’iy, a orot ukwarih fanah kwanab babahimaim kwanama, men gewasin isa isisinaf akisin fanah kwanab, baise iyab fokarin isa tisisinaf auman fanah kwanab.
19 Nếu chịu khổ trong cảnh bất công mà nhớ đến Thượng Đế là điều đáng khen.
19 Kwa anot tutufin etei God ana kokomaim kwabowabow naatu sabuw asir biyababan hinit nawawainabi isan, God boro nigegewasini.
20 Nếu bị đòn vì làm quấy thì dù cam chịu cũng chẳng có gì đáng khen, nhưng nếu chịu khổ vì làm điều phải thì được Thượng Đế ban phúc lành.
20 Bo kakafin kwasisinaf isan hinarab nawawainabi ana gewasin boro abisa kwanab, baise gewasin kwanasinaf isan nawainabi kwabi’akir God boro nigegewasini.
21 Đó là điều Thượng Đế kêu gọi anh chị em làm, vì Chúa Cứu Thế đã chịu khổ thay cho anh chị em để nêu gương cho anh chị em noi theo. Cho nên hãy làm như Ngài đã làm.
21 Kwa afa’af kwabai i bai’akir isan, anayabin Keriso kwa isa i’akir ana bai’obaiyen yare saise i an efanin kwani’ufunun.
22 “Ngài chưa hề phạm tội, chưa hề nói dối.” Ê-sai 53:9
22 “Bowabow kakafin men ta sinaf,
23 Khi bị sỉ nhục, Ngài không trả miếng. Chúa Cứu Thế chịu khổ nhưng không hề hăm dọa. Ngài để Thượng Đế, Đấng xử đoán công bằng, lo cho mình.
23 Hibi’i’iyab ana maramaim i men kafa’imo bai’iyab tur ta wan yi isah eomih, i bi’akir ana veya men hibiruwimih, baise ana nuhifot i God mutufor baibatiyenayan imaim yai.
24 Chúa Cứu Thế đã gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên thập tự giá để chúng ta không sống cho tội lỗi nữa mà sống theo điều thiện. Nhờ vết thương Ngài mà anh chị em được chữa lành.
24 Keriso akisinamo ata kakafih i biyanamaim eabar onaf afe’enamaim yen, saise it bowabow kakafinane tanamorob naatu yawas mutuforomaim tanama, i ana fitamaim it iyawasit.
25 Trước kia anh chị em như chiên lạc nhưng nay đã trở về với Người Chăn và là Đấng Bảo Bọc cho linh hồn mình.
25 Anayabin kwa bobaituw sheep na’atube ef kwasa’ir nanabin kwan, baise boun kwa buwi kwamatabir kwana Nabatanenayan naatu anun ana kaifenayan biyan kwatit.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar 1 Pedro 2, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.