1 João 3

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Cha đã quá yêu chúng ta đến nỗi nhận chúng ta làm con cái Ngài. Và chúng ta quả thật là con cái Ngài. Lý do người đời không biết chúng ta là vì họ không biết Chúa Cứu Thế.
1 God ana yabow it isat rara’at kwana’itin, ana yabow it isat ra’at, imih God it natunatun rouw ea’afit. It i anababatun God natunatunamih tamatar. Imih iti tafaram ana sabuw men hisu’ubit, na’atube God auman men hisu’ub.
2 Các bạn thân mến, hiện chúng ta là con Thượng Đế, còn tương lai chúng ta ra sao thì Ngài chưa cho chúng ta biết. Nhưng chúng ta biết khi Chúa Cứu Thế đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì chúng ta sẽ nhìn thấy Ngài thật sự.
2 Are au ofonah, it i boun God natunatun tamatar. Baise men isat ibebeyan taso’ob gewas abisa boro isat namatar. Baise Keriso nanan ana veya’amaim it taso’ob, it boro i ana itininabe. Anayabin boro matatyan ana itinin mi’itube boro i na’atube tana’itin.
3 Chúa Cứu Thế rất tinh sạch cho nên ai có hi vọng nầy trong Ngài đều phải giữ mình tinh sạch như Ngài.
3 Isan imih sabuw iyab tibitumatum Keriso boro namatabir maiye, taiyuwih hinaya’asairih dogoroh sasouwin hinama Keriso na’atube.
4 Ai phạm tội tức là phạm luật Thượng Đế vì tội lỗi là sự phạm luật Thượng Đế.
4 Orot yait bowabow kakafin esisinaf, i God ana ofafar ea’astu’ub, imih ana ubar boro nab. Anayabin bowabow kakafinamaim ofafar ea’astu’ub.
5 Các con biết Chúa Cứu Thế Giê-xu đến để xóa tội lỗi đi. Trong Ngài không hề có chút tội lỗi nào.
5 Keriso ra’iy ata bowabow kakafih bobosairen i kwaso’ob, i aurin i kakafin en.
6 Cho nên ai sống trong Chúa Cứu Thế không thể tiếp tục phạm tội. Người nào cứ mãi phạm tội là người chưa hề hiểu biết gì về Chúa Cứu Thế cả.
6 Imih sabuw iyab Keriso bairi tema’am boro men matan fufur bowabow kakafin hinasinafumih. Baise sabuw iyab matan fufur bowabow kakafin tisisinaf, anayabin Keriso men hi’itin o men hisu’ub.
7 Các con cái yêu dấu ơi, đừng để ai dẫn các con vào đường lầm lạc. Chúa Cứu Thế làm điều công chính cho nên ai muốn giống như Ngài đều phải làm điều công chính.
7 Natunatu sabuw men hinikubibiruwi, orot yait ef gewasin esisinaf i ana ef gewasin, Keriso ana ef gewasin na’atube.
8 Ma quỉ là đứa phạm tội từ ban đầu cho nên ai cứ mãi phạm tội đều thuộc về ma quỉ. Con của Thượng Đế đến thế gian để hủy phá công việc của nó.
8 Orot yait matanfufur bowabow kakafin esisinaf i Demon natun. Anayabin Demon Mowan aneika bowabow kakafin sinaf. Imih God Natun re’er anayabin i abisa Demon biwa’an i gurusinamih raiy.
9 Người nào làm con Thượng Đế thì không thể nào cứ mãi phạm tội vì trong họ có bản tính của Ngài. Họ không thể nào cứ tiếp tục phạm tội vì họ đã trở thành con Thượng Đế.
9 Orot yait God Natun, i boro men matanfufur bowabow kakafin nasinafumih. Anayabin God naniyan anababatun i nati orot yan wanawanan ema’am. Imih boro men mar etei bowabow kakafin nasinaf, yabin i Tamah God.
10 Cho nên chúng ta có thể phân biệt con Thượng Đế với con ma quỉ như sau: Ai không làm điều ngay thẳng thì không phải là con Thượng Đế, và người nào không yêu thương anh chị em mình cũng vậy.
10 Imih God natunatun naatu Demon natunatun hai itinin i bebeyan ta’i’itin. Orot yait men ef gewasin esisinaf, o tain men ebiyabuw nati orot i men God natunamih.
11 Đây là lời dạy dỗ các con đã nghe từ ban đầu: Chúng ta phải yêu nhau.
11 Tur aneika hiorereb kwanonowar i baiyabowbonen isan hio.
12 Đừng như Ca-in, vốn thuộc về Kẻ Ác nên ra tay giết em mình. Tại sao Ca-in làm như thế? Vì những việc ông làm là ác, còn những việc em ông làm là thiện.
12 It men Cain na’atube tanasinafumih, anayabin i demon nowan. Aisim tain easabun? Anayabin abisa sisinaf i kakafin, baise tain ana ef i mutufurin, imih men Cain sisinafube kwanasinafumih.
13 Thưa các anh chị em, đừng ngạc nhiên khi thế gian ghét anh chị em.
13 Taitu, iti tafaram ana sabuw hinabifa’ifai men kwanakasiyomih.
14 Chúng ta biết mình từ chết qua sống khi chúng ta yêu mến nhau. Ai không yêu thì vẫn còn ở trong sự chết.
14 Aki aso’ob morob aisnowah arabon yawas ana efamaim abatabat, anayabin taiti abiyabuwih. Orot yait men ebiyabow i morob ana efanika ema’am.
15 Ai ghét anh chị em mình là kẻ giết người và các con biết không một kẻ giết người nào có sự sống đời đời trong mình.
15 Orot yait tain ebifa’ifai i farumayan na’atube imih nati farumayan aurin yawas wanatowan wanawananamaim men ema’am.
16 Do đó chúng ta biết được tình yêu chân thật là gì: Chúa Giê-xu đã hi sinh mạng sống Ngài vì chúng ta. Cho nên chúng ta cũng phải hi sinh mạng sống cho anh chị em mình.
16 Yabow ana ef aki iti’imaim aso’ob. Keriso ana yawas it isat i’inuw, imih it auman taituwat isah ata yawas tani’inuw.
17 Giả sử có người sống sung túc mà thấy anh chị em mình thiếu thốn lại không chịu giúp đỡ thì làm sao nói được rằng tình yêu của Thượng Đế ở trong lòng mình?
17 Orot sawar wairafin tain itin ebi’akir baise baibaisin isan men ekokok, nati orot aurin God ana yabow men ema’am.
18 Các con ơi, đừng chỉ yêu suông bằng lời nói mà phải yêu bằng việc làm và chăm sóc thật sự.
18 Natunatu yabow i men turawat namomon. Baise yabow i turobe ana itinin auman, saise yabow turobe namatar.
19 — ausente —
19 Ef iti’imaim it boro tanaso’ob it i anababatun turobe nowan. Naatu God nanamaim boro koufair tanab tanabat.
20 — ausente —
20 It dogorot wanawanan abisa kakafin esisinaf boro tanaso’ob, baise God i ra’at dogorot ata naniyan nasair. Imih abisa kakafin tasisinaf etei i so’ob.
21 Các bạn yêu dấu, nếu lòng mình không cắn rứt thì chúng ta có thể dạn dĩ đến trước mặt Thượng Đế.
21 Isan imih au ofonah, dogorot ana naniyan men nabi’afiyit, God nanamaim boro koufair tanab. Naatu abisa takokok isan yoyobanamaim tanifefeyan boro nitit.
22 Bất cứ điều gì chúng ta cầu xin, Thượng Đế sẽ cho vì chúng ta vâng theo mệnh lệnh Ngài và làm đẹp lòng Ngài.
22 Abisa isan tanifefeyan boro tanab, anayabin ana ofafar tabobosiyasiyar, naatu abisa tasisinaf i yan esisisir.
23 Đây là mệnh lệnh của Ngài: Chúng ta phải tin nơi Con Ngài là Chúa Cứu Thế Giê-xu và yêu thương nhau như Ngài truyền dặn.
23 Naatu iti i ana obaiyunen tur, Natun Jesu Keriso wabinamaim tanitumatum naatu taniyabowbonen, iyunit eo na’atube.
24 Ai vâng giữ mệnh lệnh Thượng Đế thì sống trong Ngài, và Ngài sống trong họ. Chúng ta biết Thượng Đế sống trong chúng ta do Thánh Linh mà Ngài ban cho chúng ta.
24 Sabuw iyab God ana ofafar tebobosiyasiyar, God i wanawanahimaim ema’am, na’atube i wanawananamaim tema’am. Anayabin aki God Anun Kakafiyin biti’imaim a so’ob, God aki wanawananamaim ema’am.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar 1 João 3, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.