1 Coríntios 9

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Tôi là người tự do. Tôi làm sứ đồ. Tôi đã thấy Giê-xu, Chúa chúng ta. Các anh chị em là kết quả của công tác tôi trong Chúa Giê-xu.
1 Kwanotanot ayu i fatufatum wanawanan ama’am? Naatu kwanotanot ayu i men Regah ana tur abarayan? Naatu ata Regah Jesu Keriso men aitin? Naatu kwanotanot kwa i men ayu au abowabow ana ro’on?
2 Nếu kẻ khác không chấp nhận tôi làm sứ đồ, anh chị em chắc vẫn chấp nhận tôi vì chính anh chị em là bằng cớ của chức sứ đồ tôi trong Chúa.
2 Sabuw afa ayu men tur abarayan na’atube hinabubuwu na’at, baise kwa boro ayu kwanabuwu, anayabin kwa ayawas Regah wanawananamaim ebi’obaiyi, turobe kwa i ayu au bowabow ana ro’on, imih ayu i Regah ana tur abarayan.
3 Đây là câu trả lời của tôi cho những người thắc mắc về chức sứ đồ của tôi:
3 Sabuw ayu tegam tiu’uwu ana maramaim ayu iti na’atube ao awawasfafaru.
4 Chúng tôi không có quyền ăn uống sao?
4 Aki a bowabow isan ai ef ema’am boro anaa, anatom ai en?
5 Chúng tôi không có quyền mang theo một nữ tín hữu làm vợ mình giống các sứ đồ khác, như anh em Chúa hay như Phia-rơ đã làm sao?
5 Ai ef ema’am karam boro toutabin babin baitumatumayah bairi anaremor, tur abarayah, afa ata Regah Jesu taitin naatu Cephas tisisinaf na’atube ai en?
6 Hay chỉ một mình Ba-na-ba và tôi phải làm việc để sinh sống?
6 Ai ayu Barnabas airi’imo, ai aa ai tom isan anama anabow?
7 Không có binh sĩ nào phục vụ trong quân ngũ mà lại tự trả lương cho mình. Chẳng ai trồng vườn nho mà không ăn trái. Không ai nuôi gia súc mà chẳng uống sữa của bầy gia súc.
7 Baiyowayan orot ebowabow men i taiyuwin ana baiyan ebitin. Naatu orot yait masaw bowayan ana masawamaim grape ro’oro’on boro nirut, naatu bobaituw kaifenayah ana cow hai nun boro natom.
8 Không phải tôi nói theo kiểu con người đâu; luật pháp của Thượng Đế cũng nói như thế nữa.
8 Ayu men orot ana roubabaruwen fairamaim ao’omih, anayabin God ana obaiyunen tur i ta’imon nati na’atube eo ema’am.
9 Vì như luật Mô-se có viết: “Đừng khớp miệng con bò đang đạp lúa, không cho nó ăn.” Khi Thượng Đế phán như thế có phải Ngài chỉ lo cho bò thôi sao? Không phải.
9 Moses ana ofafaramaim kikirum iti na’atube eo “Bobaituw wabin ox sanabey nawawas kweyakweyaren ana veya men awan kwana’utan.” God iti na’atube eo’o kwanotanot i ox isan eo?
10 Ngài lo cho chúng ta nữa. Thánh Kinh viết về chúng ta như sau, “Người cày ruộng và người đạp lúa phải trông mong thu được mùa màng để đền bù công khó mình.”
10 En baise, iti tur eo i anababatun it isat eo, turobe iti tur hikikirum it tananowar isan, anayabin orot yait me ebifufubiy naatu orot yait ai ro’on rab ekibikib, hairi nuhih fot hima tebowabow anayabin hairi boro nowah nowah hinafaramih hinabow.
11 Nếu chúng tôi đã gieo giống thiêng liêng giữa vòng anh chị em thì có gì quá đáng khi chúng tôi mong gặt hái ít nhiều về phần đời nầy từ anh chị em?
11 Ayubit ana ub gewasin kwa wanawanamaim atatanum isan, kwa biyane sawar baibaisi isan ana bifefeyani, kwanotanot i ra’at kwanekwan?
12 Nếu những người khác có quyền làm như thế từ anh chị em thì chúng tôi cũng vậy. Nhưng chúng tôi đã không sử dụng quyền ấy. Chúng tôi cam chịu mọi sự để khỏi làm nguyên nhân cản trở việc rao Tin Mừng của Chúa Cứu Thế.
12 Orot afa tebowabow baibais kwabitih na’atube, aki auman karam boro baibais kwaniti.
13 Chắc hẳn anh chị em biết rằng ai phục vụ trong đền thờ thì lãnh thức ăn trong đền thờ, còn ai phục vụ nơi bàn thờ thì nhận được một phần của lễ dâng trên bàn thờ.
13 Kwaso’ob orot iyab Tafaror Bar gagamin wanawanan tebowabow hai bay i Tafaror Bar ana siwarane tebaib, naatu orot iyab gem kakafiyinamaim sibor te’aa auman i gem kakafiyin tafanamaim sibor turin tebaib.
14 Cũng thế, Chúa chúng ta đã dạy rằng ai rao Tin Mừng thì sống bằng Tin Mừng.
14 Ef i ta’imon, Regah ana obaiyunen turamaim na’atube eo, “Sabuw iyab tur gewasin tibibinan hai ma gewas isan baibais kafai i nati’ine nan hinab.”
15 Nhưng tôi chưa hề sử dụng những quyền ấy. Tôi viết những lời nầy không phải để mong nhận được gì từ anh chị em đâu. Tôi thà chết còn hơn đánh mất lý do kiêu hãnh nầy.
15 Baise ayu iti fair men kafa’imo ta abutubun, naatu iti fef akikirum i men sawar ta kwa biyane bain isan anot ao’omih! Baise mi’itube ata morob, men basit ata ma sabuw afa au ora’ara’at tur hitabotabir yabin en tamatar.
16 Rao truyền Tin Mừng không phải là dịp để tôi khoe khoang. Đó là nhiệm vụ của tôi—tôi buộc phải làm. Nếu tôi không rao Tin Mừng thì tôi sẽ vô cùng khốn khổ.
16 Tur gewasin abibinan isan men imaim au fair anab anao ra’ara’atamih, nati bowabow i ayu hiyunu abowabow. Naatu tur gewasin men ana bibinan kakafin anababatun boro isou namatar!
17 Nhưng nếu tôi tự chọn việc rao giảng thì tôi nhận được phần thưởng. Còn nếu tôi không tự chọn việc rao giảng thì tôi chỉ làm bổn phận Chúa giao cho.
17 Anayabin iti bowabow au kokomaim ata rubin ata bowabow baiyan boro atab, baise God ana kokomaim ayu rubinu ana bowabow itu abowabow.
18 Thế thì tôi nhận được phần thưởng gì? Phần thưởng tôi nhận như sau: Khi tôi giảng Tin Mừng thì tôi rao giảng không thù lao. Riêng tôi đã không sử dụng quyền nhận thù lao trong công tác rao Tin Mừng.
18 Imih baiyan isan men anao, baise veya kebor abaibimaim Tur gewasin ana binan, ana baiyan en. Naatu men ayu binanuyan anarouw kwa anifefeyanimih.
19 Tôi được tự do, chẳng bị ai ràng buộc. Nhưng tôi tự làm nô lệ cho mọi người để có thể cứu càng nhiều người càng tốt.
19 Ayu i men yait ta ana fafatum wanawanan ama’ama’amih. Baise ayu taiyuwu ayara’iyu sabuw etei hai akir wairafin amatar, saise sabuw moumurih ananawiyih Keriso hinaso’ob.
20 Đối với người Do-thái tôi trở nên như người Do-thái để cứu được người Do-thái. Chính tôi không ở dưới luật pháp. Nhưng đối với những người ở dưới luật pháp thì tôi trở nên giống như họ. Tôi làm như thế để cứu những người ở dưới luật pháp.
20 Jew sabuw wanawanahimaim ayu Jew orot amamatar, saise ana buwih, sabuw iyab ofafar babanamaim tema’am ayu imaim ama’am, (baise ofafar men abi’ufunun) saise sabuw ofafarane ana botaitih.
21 Đối với những người không có luật pháp, tôi sống như người không có luật pháp để cứu những người không có luật pháp. Thật ra tôi chưa thoát ly khỏi luật pháp của Thượng Đế—tôi bị luật pháp của Chúa Cứu Thế ràng buộc.
21 Sabuw iyab ofafar ufunane tema’am, ayu i hai ma’abe bairi ama’am, (iti na’atube asisinaf i men God ana ofafar ufunane ama’am baise Keriso ana ofafar wanawanan ama’am) saise sabuw ofafar ufunane tema’am abow Keriso wanawanan tirur.
22 Đối với người yếu đuối tôi trở nên yếu đuối để cứu những người yếu đuối. Tôi đã trở nên như mọi người để có thể cứu một số người bằng mọi cách.
22 Sabuw ririmih wanawanah ayu ariririm, saise ririmih anabuwih. Sawar ta ta etei hai naniyan amatar sabuw etei isah abotawiy, saise ef menatanane nabobotawiy sabuw turin aniyawas.
23 Tôi làm những điều ấy vì Tin Mừng để hi vọng được có phần ân phúc trong đó.
23 Ayu iti asisinaf anayabin Tur gewasin isan, saise tur gewasin ana baigegewasin turin anab.
24 Anh chị em biết rằng trong một cuộc chạy đua, mọi người cùng chạy nhưng chỉ có một người thắng giải mà thôi. Cho nên hãy cố gắng chạy thế nào để thắng giải!
24 Nunuwayah kwana’itih, sabuw etei tinununuw baise orot ta’imon boro nanunuw so’ar ana siwar nab. Imih yuwa kwana’asfofor kwananunuw saise siwar kwanab.
25 Ai thi đua trong các cuộc tranh tài đều phải hết sức tự chế để nhận được vương miện. Vương miện trần thế ấy sẽ khô héo sau một thời gian ngắn nhưng vương miện của chúng ta không bao giờ khô héo.
25 Fafowayah etei bai’a’it fokarin wanawanan hinarun naatu hinan hai siwar hinab, nati siwar i boro natafofor, baise it abisa tasisinaf i ata siwar wanatowan ema’am bain isan tabowabow.
26 Cho nên, tôi chạy nhưng không phải chạy mông lung. Tôi đánh nhưng không phải đánh gió.
26 Isan imih ayu men orot afa tinununuw kwanekwan na’atube anununuwamih baise au etawanamaim anununuw, na’atube au baiyow i men asir aroberob kwanekwan, orot baiyowayan eroberob kwanekwan na’atube.
27 Tôi không dễ dãi với thân thể tôi, trái lại rất gắt gao với nó, bắt nó làm nô lệ cho tôi để tôi khỏi bị Thượng Đế gạt bỏ sau khi giảng cho kẻ khác.
27 Baise ayu biyou arab baikwatutunen fokarin aitin ayamutufur. Imaibo tur sabuw afa isah abibinan saise etei nunuw wanawanan hinarun asir ayu boro hinabotaitu siwar baina’e anama.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar 1 Coríntios 9, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.