1 Coríntios 4

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Mọi người nên xem chúng tôi như đầy tớ của Chúa Cứu Thế, những người đã được Thượng Đế ủy thác để giải thích các điều kín giấu của Ngài.
1 Naatu boun it i Keriso ana akir wairafih na’atube sabuw hina’itit, naatu God ana buriburih koubuna’ayah na’atube hina’itit.
2 Người được ủy thác phải chứng tỏ mình là người đáng tin cẩn.
2 Naatu sabuw iyab hitutumih iti bowabow hibitih hai orot ukwarih isah hinabosunusunub.
3 Phần tôi, tôi không lưu ý đến những sự phê phán dù là của anh chị em hay bất cứ tòa án nào của loài người. Đến nỗi tôi cũng không tự phê phán mình nữa.
3 Ayu au yawas kwanafufun o sabuw au yawas hinafufufun isan men abiyababan. Anababatun a tur ao’owen taiyuwu au yawas men afufufun.
4 Tôi biết mình chẳng làm điều gì quấy, nhưng chẳng phải vì thế mà tôi vô tội đâu. Chỉ có Chúa mới phê phán tôi được thôi.
4 Ayu taiyuw au not iu’uwu men kakafin ta asinaf, baise boro men nati’imaim anab au kakafin en ana’omih. Regah akisin boro ayu nibatiyu.
5 Vì thế nên đừng vội phê phán; hãy đợi Chúa đến. Lúc ấy Ngài sẽ mang những điều bí ẩn trong bóng tối ra ánh sáng và sẽ phơi bày những mục đích thầm kín trong thâm tâm con người. Nếu ai đáng được thưởng, người ấy sẽ được Thượng Đế thưởng công.
5 Isan imih orot babin baibatiyin isan veya hiyai’iyai boro enan, kwanakaif Regah nan natitabo. I nanan ana veya gugumin wanawanan abisa wa’iwa’irin inu’in marakaw boro nakusisiar narun naatu orot dogoroh ana wa’iwa’irin etei boro nabow hinatit hinirerereb. Imaibo orot ta’ita’imon abisa hisisinaf isan God boro nabora’ara’ahih.
6 Thưa anh chị em, tôi đã dùng A-bô-lô và cá nhân tôi dẫn chứng để anh chị em học được ý nghĩa của câu ngạn ngữ, “Hãy noi theo lời dạy của Thánh Kinh.” Như thế anh chị em sẽ không trọng người nầy, mà khinh người kia.
6 Taitu, boun ayu akokok Apollos airi biyai’imaim bai’obaiyen ta anayai kwata’itin, saise tur abisa hio hikikirum yabin kwanaso’ob. “Tur abisa hikikirum ana fofoninamaim kwanao, men kwanatetebon.” Orot ta kwanabora’ah naatu ta kwananuw furuw kwanau kwaniyimih.
7 Ai làm cho anh chị em cảm thấy mình hơn người khác? Có gì anh chị em có mà không phải là quà tặng đâu? Còn nếu là quà tặng thì tại sao anh chị em lại tự hào như thể quà ấy do tay mình làm ra?
7 Yait eo kwanowar kwa i turanah etei tafahimaim? Sawar etei kwabow kwama’ama etei i God it. Aisim taiyuw kwabobora’ara’ahi, ana itinin iti usar i kwabai kwaniyibe?
8 Anh chị em đã có đủ mọi điều cần dùng cho nên tưởng mình giàu có rồi. Anh chị em tự cho mình là vua mà không cần chúng tôi. Tôi mong cho anh chị em làm vua thật để tôi cũng được làm vua chung với anh chị em.
8 Kwa a kok sawar etei i kwabow karam kwama’am. Naatu boun kwa i totobuyoy wairaf kwamatar, kwana kwai’aiwoboka, aki baise en. Au notamaim akokok mi’itube kwati’aiwob gewas, saise aki auman bairit tati’aiwob youn.
9 Nhưng hình như Thượng Đế đã đưa các sứ đồ chúng tôi xuống hàng chót, giống những tù nhân bị kết án tử hình. Chúng tôi chẳng khác nào trò diễn cho cả thế giới xem—khán giả là thiên sứ và loài người.
9 Ayu akisu au itinin, aki tur abarayah ai efan i urantoro’ot anababatun God yai, ana itinin dibur sabuw bebeyan ma’o’ow ana efanamaim terouw temomorob na’atube. Aki boro bebeyanamaim ana morob tounamatar naatu sabuw tutufin etei hinamau’uwi.
10 Chúng tôi trở nên điên dại vì Chúa Cứu thế nhưng anh chị em rất khôn ngoan trong Ngài. Chúng tôi yếu ớt, anh chị em mạnh mẽ. Anh chị em được tôn trọng, chúng tôi bị sỉ nhục.
10 Keriso wabinamaim taiyuwi ai’itinin na koko’awabe amatar, baise kwa i Keriso wanawananamaim kwana not wairafi kwamatar. Aki i ariririm, baise kwa a fair i erara’at, aki tinunuw furuwi, baise kwa i tekakakafiyi.
11 Ngay đến giờ nầy chúng tôi cũng không đủ ăn, đủ mặc. Chúng tôi bị đánh đập, không chỗ trú thân.
11 Iti boun ana veya’amaim aki sikai harewamih mamah, abi’aamorob, ai ar ai faifuw tibiririk, segar hiborabirabi efamaim a’in ama areremor ai bar en.
12 Chúng tôi dùng hai bàn tay mình làm việc cực nhọc để nuôi thân. Khi bị chưởi rủa, chúng tôi chúc phước. Khi bị ngược đãi, chúng tôi cam chịu.
12 Bowabow gagamin maiyow abowabow isan ahahahar, sabuw teo rarafi ana veya’amaim aki baigegewasin abitih, terabi tibia’akiri ana veya aki ewawainabi.
13 Khi bị vu oan, chúng tôi lấy lời hòa nhã đáp lại. Cho đến giờ nầy chúng tôi vẫn bị đối xử như rác rưởi của thế gian—cặn bã của nhân loại.
13 Tiu’uwi kwanikwaniyi ana veya, yabow turamaim abiyafutih. Boun ana veya’amaim aki i tafaram ana hain naatu bay ana merekas na’atube amatar.
14 Không phải tôi tìm cách làm anh chị em xấu hổ đâu. Sở dĩ tôi viết những điều nầy là để cảnh tỉnh vì tôi xem anh chị em như con cái yêu dấu của tôi vậy.
14 Ayu iti fef i men kwa itinin biya’ohow isan akikirumamih. Baise akokok animatnuwi, anayabin kwa i ayu natunatu au yabow.
15 Dù cho anh chị em có cả vạn ông thầy trong Chúa Cứu Thế đi nữa thì anh chị em vẫn không có nhiều cha. Qua Tin Mừng, tôi đã trở thành cha của anh chị em trong Chúa Cứu Thế Giê-xu,
15 Basit kwa ayub ana bonawiyenayah etei 10,000 na’atube tibi’obaiyi, baise tamatanah i men moumurih, anayabin Keriso Jesu ana baikofanamaim ayu ana kwa tamat amatar tur gewasin abai ana ait.
16 Cho nên tôi xin anh chị em hãy noi gương tôi.
16 Imih abifefeyani, ayu abisa asisinaf na’atube kwani’u’uru.
17 Vì thế mà tôi sai Ti-mô-thê, con tôi trong Chúa, đến cùng anh chị em. Tôi yêu Ti-mô-thê, người rất trung tín. Anh sẽ nhắc anh chị em nhớ lại lối sống của tôi trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, cũng như tôi đã dạy dỗ các hội thánh khắp nơi.
17 Ana’an iti isan ayu natu au yabow kek wabin Timothy kwa isa abiyafar. Iti kek i Regah ana bowabow isan ebobosunusunub, i enan boro kwa nuhinakusib, ayu au yawas naatu au bowabow mi’itube Keriso ana yawasamaim ama abowabow boro nao kwananowar, naatu mi’itube ekaleisia sabuw efan ta ta abi’obaiyih auman boro nao kwananowar.
18 Một số người trong anh chị em đâm ra tự phụ, tưởng rằng tôi sẽ không đến với anh chị em nữa.
18 Kwa afa kwanotanot ayu boro men atan atinanawani kwarouw, imih kwa abai’oro’orot erara’at.
19 Nhưng nếu Chúa muốn, tôi sẽ đến thăm anh chị em một ngày rất gần. Lúc ấy tôi sẽ biết những kẻ tự phụ đã làm được gì, chứ không phải dựa theo điều họ nói,
19 Baise ayu boro’omo anan aninanawani, Regah nakokok na’at. Imaibo boro taiyuwu anaso’ob, naatu men bai’o’orotoyah hai tur akisin, baise hai fair menane hibaib auman anaso’ob.
20 vì Nước Trời được chứng tỏ bằng năng lực chứ không phải bằng lời nói.
20 Anayabin God ana aiwob i men turawat namomon, baise ana fair auman.
21 Anh chị em muốn điều nào: Muốn tôi mang trừng phạt đến cho anh chị em hay tình yêu và lòng hòa nhã?
21 Kwa a kok i boro abisa anab anan kwana’itin? Wabir anab anan ana wabir? O taiyuwu ana yara’iyu yabowamaim anan kwa isa?

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar 1 Coríntios 4, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.