1 Coríntios 1
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Phao-lô, được gọi làm sứ đồ của Chúa Cứu Thế Giê-xu, theo ý muốn Thượng Đế, cùng với Sốt-then, anh em chúng ta trong Ngài.
1 Ayu Paul God ana kokomaim eafu atit Keriso Jesu ana Tur abarayan amatar taituwa Sosthenes airi.
2 Kính gởi hội thánh Chúa tại Cô-rinh, là những người đã được thánh hóa qua Chúa Cứu Thế Giê-xu. Anh chị em đã được Thượng Đế kêu gọi làm dân thánh cho Ngài cùng với các dân tộc khác ở khắp nơi, là những người cầu khẩn danh Chúa Cứu Thế Giê-xu—Ngài là Chúa của họ cũng như của chúng ta.
2 God ana Ekaleisia nati Corinth wanawanamaim kwama’am, iyabowat afa’af kwabai kwatit Keriso Jesu wanawananamaim kusouwi God ana sabuw kakafiyih kwamatar kwama’am, naatu sabuw efan tata’amaim iyabowat it bairit taikofan ata Regah Jesu Keriso wabinamaim tao takwakwafir auman.
3 Nguyền xin anh chị em nhận được ân phúc và bình an từ Thượng Đế, Cha chúng ta và từ Chúa Cứu Thế Giê-xu.
3 Manaw kabeber, tufuw, Tamat Godane naatu ata Regah Jesu Keriso’one kwa etei isa nama.
4 Tôi luôn luôn cảm tạ Thượng Đế vì ân phúc Ngài đã đổ trên anh chị em qua Chúa Cứu Thế Giê-xu.
4 Ayu mar etei kwa isa God merarayow abitin, anayabin Keriso Jesu wanawananamaim God manaw kabeber bit isan.
5 Tôi cảm tạ Ngài vì trong Chúa Cứu Thế anh chị em được giàu có về mọi phương diện, về lời nói cũng như về sự hiểu biết.
5 Naatu i wanawananamaim kwa i kwana ef tata’ane totobuyoy wairaf kwamatar, a turamaim naatu not rerekabamaim sawar etei kwaso’ob.
6 Vì lời chứng về Chúa Cứu Thế đã vững chắc trong lòng anh chị em
6 Anayabin ayu Keriso isan ao’orereb i kwa wanawanamaim matar ebiturobe.
7 cho nên anh chị em đã nhận được mọi phúc lành từ Thượng Đế trong khi chờ đợi Chúa Cứu Thế Giê-xu chúng ta trở lại.
7 Isan imih kwa ata Regah Jesu Keriso na bairerereb isan kwama kwakakaif wanawanan, men kafa’imo ayub ana baigegewasin ta kwasasa’irimih.
8 Ngài sẽ giúp anh chị em vững mạnh cho đến cuối cùng, để đến ngày Chúa trở lại anh chị em sẽ được thánh sạch hoàn toàn.
8 Naatu God boro nabototofari kwanan ana yomanin, saise ata Regah Jesu Keriso nanan ana Veya’amaim kwa boro aur ubar en na’iti.
9 Thượng Đế, Đấng thành tín đã kêu gọi anh chị em dự phần với Con Ngài là Cứu Thế Giê-xu, Chúa chúng ta.
9 God Natun ata Regah Jesu Keriso ana baita’ayomaim bairi run isan ea’afi i kwanitumitum.
10 Thưa anh chị em, nhân danh Chúa Cứu Thế Giê-xu, tôi xin anh chị em hãy đồng tâm, không nên chia bè phái. Anh chị em hãy hoàn toàn hiệp nhất từ tư tưởng cho đến mục tiêu.
10 Ata Regah Jesu Keriso ana roubabaruwen fair tafanamaim ayu abifefeyani taitu, abisa isan kwao’o etei kwanibasit, saise kwa wanawanamaim kouseb boro men nama, a not tutufin etei ta’imon namatar kwanama.
11 Thưa anh chị em, gia đình Cơ-lô đã thuật cho tôi nghe rằng có những cãi vã giữa anh chị em.
11 Taitu, ayu i Chloe tain tuwan afa hina, kwa wanawananamaim kwama kwabigamigam isan hio anowar.
12 Tôi muốn nói: Người thì tuyên bố, “Tôi theo Phao-lô”; kẻ thì nói, “Tôi theo A-bô-lô”; người thì bảo, “Tôi theo Phia-rơ”; kẻ khác lại nói, “Tôi theo Chúa Cứu Thế.”
12 Ayu boro iti na’atube anao, kwa ta’ita’imon a tur ta ta kwao, o ta kuo, “Ayu i Paul abi’ufunun,” ta kuo, “Ayu Apollos abi’ufunun,” ta kuo, “Ayu Peter abi’ufunun,” naatu ta kuo, “Ayu i Keriso abi’ufunun.”
13 Chúa Cứu Thế đã bị chia xé ra thành nhiều nhóm sao? Có phải Phao-lô chết trên cây thập tự thế cho anh chị em không?—Không! Có phải anh chị em nhân danh Phao-lô làm lễ báp-têm không?—Không!
13 Keriso i kwatarsisib in kau’ay nanabin matar. Iban Paul onaf afe’en kwa isa morob? Ai Paul bai’ufnuninamih bapataito kwabai?
14 Tôi cảm tạ Thượng Đế vì ngoài Ri-bút và Gai-út, tôi không có làm báp-têm cho người nào trong anh chị em cả
14 Ayu God ana merar ayiy kwa men ta bapataito aitimih, Krisipas naatu Gaius hairi’imo,
15 để chẳng ai trong anh chị em có thể nói rằng mình đã nhận báp-têm nhân danh Phao-lô.
15 imih men yait ta boro inao, ayu i Paul wabinamaim bapataito abai abi’ufunun.
16 Tôi cũng đã làm báp-têm cho gia đình Tê-pha-na, ngoài ra tôi không nhớ đã làm báp-têm cho ai khác.
16 (Boro’obo anot Stephanas aawan ana nibur bairi bapataito aitih, baise anotanot men yait ta bapataito aitinimih.)
17 Chúa Cứu Thế sai tôi không phải để làm báp-têm nhưng để rao Tin Mừng mà không cần phải dùng những lời lẽ khôn ngoan của loài người để cho thập tự giá của Chúa Cứu Thế khỏi trở thành vô dụng.
17 Anayabin Keriso i men bapataito isan iyafaru’umih, baise tur gewasin binan isan iyafaru, naatu men orot babin maiyow hai tur naatu hai notamaim ana’omih, nati na’atube ana’orerereb Keriso onaf afe’en momorob tur gewasin ana fair boro yabin en namatar.
18 Những người bị lầm lạc xem việc dạy dỗ về thập tự giá như chuyện điên rồ, nhưng đối với chúng ta là kẻ đã được cứu, thì đó là năng lực của Thượng Đế.
18 Anayabin onaf ana tur sabuw kasikasiyih isah i yabin en, baise iyabowat tayayawas isat i God ana fair
19 Như Thánh Kinh đã viết:
19 Buk Atamaninamaim eo na’atube:
20 Người khôn đâu? Kẻ có học đâu? Tay ăn nói lưu loát đời nầy đâu? Thượng Đế đã biến sự khôn ngoan đời nầy thành ra ngu dại.
20 Bo orot ukwarin rerekabin menamaim ema’am? Orot kirum so’obayan menamaim ema’am? Naatu orot baibasayan ana not gagamin iti tafaram nowan menamaim ema’am? God iti tafaram ana ukwar rerekab botabir na koko’aw mamatar men kwaso’ob?
21 Thế gian không thể biết Thượng Đế qua cái khôn của mình. Vì thế mà Ngài đã dùng những lời giảng có vẻ ngu dại của chúng ta để cứu những người tin.
21 Anayabin God ana ukwar rerekabamaim iwa’an sabuw tafaram ana ukwar rerekabamaim hima’am men karam boro hitaso’ob, naatu sabuw iyab iti tafaram ana ukwar rerekab hibaib, iti tur isan yabin en hirouw hio, baise aki onaf isan abibinanumaim God iti tur bai sinaf sabuw hitumatum yawas hibai.
22 Trong khi người Do-thái đòi xem phép lạ, người Hi-lạp thì tìm sự khôn ngoan.
22 Jew hikok ina’inan hita’itin hititurobe naatu Greek sabuw i ukwarerekab hinuwih.
23 Còn chúng ta lại rao giảng Chúa Cứu Thế bị đóng đinh. Đó là điều chướng tai gai mắt đối với người Do-thái và là chuyện điên rồ đối với người không phải Do-thái.
23 Baise it i Keriso onaf afe’en hi’onaf momorob isan tabibinan, iti tur Jew sabuw tenonowar i tainih ekuyikuy, naatu Ufun Sabuw tenonowar isah i yabin en.
24 Nhưng đối với những người Ngài đã gọi—dù là Do-thái hay Hi-lạp thì Chúa Cứu Thế là quyền năng và sự khôn ngoan của Thượng Đế.
24 Baise Jew sabuw naatu Ufun Sabuw wanawanahimaim iyab God eafih hina yawas hibaib, nati sabuw isah Keriso i God ana fair naatu ana ukwar rerekab.
25 Sự ngu dại của Thượng Đế vượt xa sự khôn ngoan của loài người, còn sự yếu đuối của Thượng Đế cũng mạnh hơn năng lực con người.
25 Anayabin God ana ukwar rerekab hi’itin koko’aw hirouw hio’o, i orot ana ukwar rerekab natabir, naatu God ana ririmin hi’itin hio’o, i orot ana fair natabir.
26 Thưa anh chị em, hãy nhớ lại lúc anh chị em mới được Thượng Đế gọi. Trong vòng anh chị em đâu có bao nhiêu người khôn ngoan theo tiêu chuẩn đời nầy? Đâu có bao nhiêu người có địa vị? Đâu có bao nhiêu người xuất thân từ gia đình danh giá?
26 Taitu, kwa marasika mi’itube kwama’am ana maramaim God ea’afi i kwananot, sabuw hai itininamaim kwa moumur na’in i men not wairafi, men orot faifir, na’atube atufuwamaim men orot gagamih hai rara’ane kwatufuwamih.
27 Nhưng Thượng Đế đã dùng những việc khờ dại đời nầy để làm xấu hổ cái khôn và dùng cái yếu ở thế gian để làm xấu hổ cái mạnh.
27 Baise God tafaram ana sawar koko’aw hirarouw, rubinen sabuw not wairafih ibiya’uhuwih. Naatu tafaram ana sawar ririmih hirarouw rubinen, sabuw fairih ibiya’uhuwih.
28 Ngài dùng những việc thấp hèn mà thế gian xem thường để phá hủy những gì thế gian xem trọng.
28 Abisa tafaram itin yabin en rarouw i rubin bai, naatu abisa tafaram itin gagamin rarouw i gurus.
29 Thượng Đế làm như thế để không ai có thể khoe khoang trước mặt Ngài.
29 Saise men yait ta God nanamaim naora’ara’atamih.
30 Vì nhờ Ngài, anh chị em được ở trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, Đấng đã trở nên khôn ngoan vì chúng ta trong Thượng Đế. Qua Chúa Cứu Thế anh chị em trở nên công chính trước mặt Thượng Đế, được thánh hóa và được giải thoát khỏi tội lỗi.
30 Baise God buwit tana Keriso Jesu wanawananamaim ikofanit naatu sinaf Keriso ata ukwar rerekab matar. Naatu kakafhine rufamit tatit, yamutufurit God ana sabuw kakafiyih tamatar.
31 Như Thánh Kinh viết, “Ai khoe, chỉ nên khoe về Chúa mà thôi.”
31 Isan imih Buk Atamaninamaim eo na’atube, “Yait nakokok ora’ara’atamih Regah abisa sisinaf tafanamaim nao ra’ara’at.”
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar 1 Coríntios 1, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.