1 Coríntios 14

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Các anh chị em hãy tìm kiếm tình yêu thương và hãy thật lòng ao ước các ân tứ thiêng liêng, nhất là ân tứ nói tiên tri.
1 Yabow i ayawasamaim wan nama nabonawiy, naatu dogor wanawanan akok gagamin Anun Kakafiyin usar bai enan akisin kwananuwih kwanab, usar gewasin naatu au gagamin i God ana tur binan ana usar kwanab.
2 Tôi sẽ giải thích tại sao. Những người nói ngôn ngữ lạ không phải nói với người ta mà là nói với Thượng Đế. Không ai hiểu họ vì họ nói những điều bí ẩn qua Thánh Linh.
2 Orot yait menan botabir tur ta’amaim eo i men sabuw isah eo, baise God isan eo. Anayabin men yait ta so’ob tur boro nanowar naniyan nab, nati tur i Anun Kakafiyin ana fairane tur anababatun wa’iwa’irin eo.
3 Nhưng những người nói tiên tri là nói với người ta để gây dựng, khuyến khích và an ủi.
3 Baise orot yait God ana tur eo ebibinan i sabuw isah eo baibais, koufair, nuhifot ebitih.
4 Người nói ngôn ngữ lạ chỉ giúp ích cho chính mình thôi còn người nói tiên tri giúp ích toàn thể hội thánh.
4 Yait menan botabir tur ta’amaim eo, nati i taiyuwin ebibais. Baise orot yait God ana tur eo ebibinan, i God ana sabuw tutufin etei ebibaisih.
5 Tôi mong tất cả anh chị em đều có ân tứ nói ngôn ngữ lạ nhưng tôi mong hơn nữa là anh chị em có ân tứ nói tiên tri. Những người nói tiên tri ích lợi hơn những người nói ngôn ngữ lạ mà không có ai diễn giải để hội thánh được gây dựng.
5 Ayu au kok kwa etei mena tabotabir tur ta’amaim kwatao, baise au kok gagamin anababatun i binan ana usar kwatab, anayabin orot yait tur eo ebibinan ana baibais i gagamin. Orot menan ebobotabir i gewasin, baise orot ta nati kou’ay wanawanan tur nabotabir nao ekaleisia etei hinanowar saise boro nibaisih.
6 Thưa các anh chị em, nếu tôi đến thăm mà nói ngôn ngữ lạ thì có ích gì cho anh chị em không? Chắc là không. Chỉ ích lợi là khi tôi mang đến một chân lý mới, kiến thức mới, lời tiên tri mới hay một sự dạy dỗ mới mà thôi.
6 Naatu taitu, ayu atan kwa ata binanawan ana veya, menau tabotabir tur ta’amaim atao’o na’at boro baibais atit? Baise tur boubuh, not so’ob boubuh, tur binan God biyanane, naatu God ana roube’aten tur ana bow anan, turobe boro imaim nibaisi.
7 Đối với những vật vô tri phát ra tiếng cũng thế—chẳng hạn như sáo hay đờn cầm. Nếu những nhạc khí ấy trổi lên không theo âm điệu nào thì có ai biết chúng đang trổi bản gì.
7 Ef ta iti na’atube, ben hai sawar douduf na’atube hinirabirab, o fik na’atube hinababin kwanekwan orot benayan boro mi’itube naniyan nab naben gewas?
8 Còn khi chiến tranh, nếu kèn không thổi lớn tiếng rõ ràng thì ai biết mà chuẩn bị ra trận?
8 Naatu orot yait tour men ebababin gewas, baiyowayah boro mi’itube hinaso’ob gewas hibobuna baiyow isan?
9 Đối với anh chị em cũng vậy. Nếu anh chị em không nói rõ ràng thì đâu ai hiểu anh chị em nói cái gì. Chẳng khác nào anh chị em nói với không khí.
9 Ana itinin i ta’imon, o mena nabotabir tur ta sabuw men hisoso’obamaim kuo, sabuw boro mi’itube naniyan hinab o abisa isan kuo? O a tur asir isaroun me yan ere’er.
10 Đành rằng trên thế gian có nhiều ngôn ngữ và ngôn ngữ nào cũng có nghĩa.
10 Tafaram wanawanan tur i moumurih maiyow, naatu nati tur etei i hai yabih auman men ta yabin enamih.
11 Nhưng nếu ai nói với tôi bằng một ngôn ngữ mà tôi không hiểu thì đối với người ấy tôi chẳng khác nào người ngoại quốc, còn người ấy thì cũng như người ngoại quốc đối với tôi.
11 Isan imih tur nidun anonowar naniyan men abaib ayu i touman orot amatar, nati orot tur oyan isan, naatu tur oyan auman ayu isou touman orot matar.
12 Đối với anh chị em cũng thế. Vì anh chị em rất mong mỏi nhận được các ân tứ thiêng liêng nên hãy tìm ân tứ nào có thể gây dựng hội thánh thêm lớn mạnh.
12 Imih o yait a kok gagamin i ayubit ana usar ta inab inabow, basit God kwi’fefeyan saise usar menatan o inab ekalesia inabibais boro nit.
13 Người được ân tứ nói ngôn ngữ lạ nên cầu xin có ân tứ diễn giải ngôn ngữ ấy.
13 Ana’an iti isan sabuw iyab menah ebobotabir, gewasin hinayoyoban, saise tur koubuna isan ana usar auman hinab hinakubuna sabuw hinaso’ob.
14 Nếu tôi cầu nguyện bằng ngôn ngữ lạ thì tâm linh tôi cầu nguyện nhưng trí óc tôi thụ động.
14 Anayabin ayu mena’umaim ayoyoyoban, ayubu auman ibo eyoyoyoban, baise au not men kafa’imo so’ob ayu abisa ao’o.
15 Thế thì tôi phải làm sao? Tôi phải cầu nguyện bằng tâm linh nhưng cũng bằng trí óc nữa. Tôi sẽ hát bằng tâm linh nhưng cũng hát bằng trí óc nữa.
15 Ayu boro abisa anasinaf? gewasin ayu i boro ayubu airi anayoyoban, naatu au not auman airi anayoyoban, ayubu airi ew anatabor naatu au not auman airi anatabor.
16 Nếu anh chị em chỉ ca ngợi Thượng Đế bằng tâm linh thì những người ngồi nghe không hiểu anh chị em nói gì, làm sao họ nói A-men cùng với lời cầu nguyện tạ ơn của anh chị em được?
16 Ayubimaim God ana merar iyi kubobora’ara’ah, orot ta boro mi’itube naso’ob airi God kwanabora’ara’ah, naatu boro mi’itube naso’ob nibasit. Anayabin nati orot i men so’ob o abisa’awat kuo’o.
17 Có thể lời cảm tạ Thượng Đế của anh chị em rất tốt nhưng người khác không được gây dựng.
17 Basit o i merarayow gewasin maiyow God kubitin dogor tutufin etei, baise taituwa nati na ebatabat men kubibais.
18 Tôi cảm tạ Thượng Đế vì tôi có ân tứ nói được nhiều ngôn ngữ lạ hơn tất cả anh chị em.
18 Ayu i God ana merar ayiy, anayabin ayu menau botabirin tur ta’amaim o isan kwa etei ana tabir.
19 Nhưng trong các cuộc nhóm họp chung, chẳng thà tôi nói năm lời mà tôi hiểu để dạy dỗ gây dựng người khác hơn là nói hàng ngàn lời bằng ngôn ngữ lạ.
19 Baise ekalesia hai kou’ay wanawanan ayu tur etei five akisin anao sabuw etei boro naniyan hinab naatu nibaisih, baise menau nabotabir tur 10,000 na’atube anao ana baibais i en.
20 Anh chị em ơi, về tư tưởng thì không nên như trẻ con nữa. Về việc gian ác thì nên ngây thơ như trẻ con nhưng còn về tư tưởng thì nên như người trưởng thành.
20 Taituwau, men kek hai notabe kwananot, men kek sosofabe kwanarerey kwanekwanemih, baise orot babin hai not kwanab tur kwanao.
21 Thánh Kinh có chép:
21 Buk Atamaninamaim wanawanan ofafar iti na’atube hikirum,
22 Cho nên ân tứ nói ngôn ngữ lạ là bằng chứng cho người không tin chứ không phải cho người đã tin. Còn lời tiên tri dành cho người đã tin chứ không phải cho người chưa tin.
22 Menat ebobotabir i men sabuw baitumatumayah hai i’inan, baise sabuw iyab men tibitumatum hai i’inanen, naatu tur binan i sabuw iyab men tibitumatum isah, baise baitumatumayah isah.
23 Giả sử toàn thể hội thánh nhóm họp lại, người nào cũng nói tiếng khác nhau. Nếu có người ngoại cuộc hoặc chưa tin bước vào, có phải họ sẽ tưởng rằng anh chị em điên khùng rồi không?
23 Imih ekaleisia tutufin etei hinaru’ay, naatu sabuw etei menah nabotabir tur ta’amaim hinao’o, sabuw afa ufunane hina tema’am, naatu sabuw iyab men tibitumatum boro hinao, “Sabuw tibikoko’aw kwa’itih?”
24 Nhưng giả sử mọi người đều nói tiên tri mà có người ngoại cuộc hay chưa tin bước vào, họ không hiểu nhưng nếu mọi người đều nói tiên tri thì tội lỗi họ sẽ bị phơi bày ra và họ sẽ bị xét xử về những điều họ nghe.
24 Baise orot yait God ana tur eo ebibinan ufun orot baitumatum atin ma enonowar boro dogoron narusib. Anayabin tur abisa nonowar ana kakafih etei hina hibebeyan itan.
25 Những điều bí ẩn trong lòng họ sẽ bị phơi ra. Họ sẽ bái lạy Thượng Đế và xưng rằng, “Thượng Đế đang ở với anh chị em.”
25 Ana not wa’iwa’irin ma’am etei tit irerereb naatu boro sun nayowen Regah nakwafir, bebeyanamaim naorereb nao, “Turobe God i kwa wanawananamaim bairi kwama’am!”
26 Như thế, thưa anh chị em phải làm sao? Khi họp lại, người thì hát, người thì dạy, người thì có chân lý mới từ Thượng Đế, người nói ngôn ngữ lạ, người diễn giải ngôn ngữ ấy. Tất cả đều phải làm để gây dựng hội thánh lớn mạnh.
26 Taituwau, abisa ao yabin i iti, bora’ara’aten isan kwanaruru’ay ana veya, orot boro ew natabor, orot ta boro ni’obaibiyi, orot ta boro God ana tur naorerereb, orot ta boro menan nabotabir, orot ta boro nati tur nabotabir nakubuna kwananowar, naatu sawar iti etei i ekaleisia wowabin ra’at isan kwasisinaf.
27 Khi nhóm họp lại, nếu có ai nói ngôn ngữ lạ thì chỉ cần chừng hai chứ không nên quá ba người nói. Phải thay phiên nhau mà nói và phải có người diễn giải.
27 Menamaim omih orot rou’ab o tounu hinao naatu men tounu nanatabir, naatu tur i orot ta nao nasawar, imaibo ta nao, men auta’imon kwanarahimih, naatu orot ta i nati tur nabotabir nakubuna.
28 Nếu không có ai diễn giải thì người nói ngôn ngữ lạ nên im lặng trong giờ nhóm họp. Họ chỉ nên nói thầm với mình và với Thượng Đế mà thôi.
28 Baise koubuna’ayan orot nati’imaim men nama’am na’at, orot nati tur eo gewasin ekaleisia wanawanan boro awan nafot, i akisin God hairi’imo hinayoyoban.
29 Chỉ nên có hai hoặc ba người nói tiên tri còn người khác cân nhắc điều họ nói.
29 Orot rou’ab o tounu God ana tur hinabinan, naatu hinabibinan wanawanan, binanuyah afa nati tibibinan hai tur hinafufun gewas.
30 Nếu có sứ điệp do Thượng Đế đến với một trong những người ngồi đó thì người nói đầu tiên phải ngưng.
30 Naatu nati tur inan wanawanan orot ta kou’ay wanawanan ma’am God ana tur ta boubun na isan birerereb ana veya, nati orot bat ebibinan awan nafot.
31 Tất cả anh chị em có thể tuần tự nói tiên tri. Như thế mọi người sẽ được dạy dỗ và nâng đỡ.
31 Anayabin kwa ta’ita’imon a veya ti’inu’in na’atube boro kwanabinan, saise sabuw etei boro roube’aten tur hinab hinaso’ob naatu koufair hinab.
32 Thần linh của các tiên tri ở dưới quyền kiểm soát của các người nói tiên tri.
32 Dinab oro’orot iyab God ana tur hio tibibinan hai tur i hinakaif gewas.
33 Thượng Đế không phải là Chúa của sự rối loạn mà là Chúa của sự hòa bình. Trong tất cả các hội thánh của Thượng Đế
33 Anayabin i men baibikwarisen ana Godamih, baise tufuw ana God.
34 đàn bà phải im lặng trong các buổi nhóm họp, không được lên tiếng, nhưng phải tuân theo luật pháp qui định.
34 Ekalesia wanawananamaim baibin i awah nafot hinama. Baibin isah men baibasit ema’am boro tur hinao, baise ofafar eo na’atube awah nafot orot babahimaim hinanutanub hinama.
35 Nếu họ muốn học điều gì thì phải hỏi chồng mình ở nhà. Đàn bà lên tiếng trong các buổi nhóm họp là không phải lẽ.
35 Sawar ta isan so’obamih baremaim a’aawah hinibatiyih, anayabin ekaleisia wanawanan baibin tur o isan i biya’ohow ema’am.
36 Có phải lời dạy dỗ của Thượng Đế đến từ anh chị em không? Hay là chỉ có một mình anh chị em là có sự dạy dỗ ấy?
36 Kwanotanot God ana tur kwa akis biyamaim busuruf? Ai nati tur i kwa akis isa na?
37 Ai cho mình là nhà tiên tri hay người thiêng liêng thì phải hiểu rằng lời tôi viết cho anh chị em đây là mệnh lệnh của Chúa.
37 Orot yait enotanot i God ana dinab orot, naatu God biyanane ayubin ana usar bai ema’am, abisa kwa isa akikirum boro naso’ob, iti i Regah ana obaiyunen tur.
38 Ai gạt bỏ lời dạy nầy sẽ bị Thượng Đế gạt bỏ lại.
38 Baise iti tur nanowar nakwakwahir, God boro ibo nakwahir ana tur men nanowar.
39 Thưa anh chị em, hãy thật lòng ao ước nói tiên tri. Tuy nhiên không nên ngăn cản việc nói ngôn ngữ lạ.
39 Isan imih taituwau, dogor kwanabotawiy God ana tur kwanab gewas kwanabinan, naatu sabuw afa menah botabir teo men kwana’otanih.
40 Nhưng việc nào cũng phải làm cho đúng cách và theo thứ tự.
40 Baise kwana’itin gewas sawar etei i hai efamaim kwanasinaf naatu kakaf ana efamaim.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar 1 Coríntios 14, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.