Mateus 26
Tiếng Việt (VIE) vs AAI
1 Vả, Đức Chúa Jêsus đã phán những lời ấy xong rồi, thì phán cùng môn đồ rằng:
1 Jesu bi’obaibiyih ufunamaim, ana bai’ufununayah isah eo,
2 Các ngươi biết rằng còn hai ngày nữa thì đến lễ Vượt qua, và Con người sẽ bị nộp để chịu đóng đinh trên cây thập tự.
2 “Kwanaso’ob veya rou’ab ufunamaim Tar Nowaten ana hiyuw enan. Nati ana veya’amaim Orot Natun boro hinab rakit sabuw umahimaim hinayai hina’onaf.”
3 Bấy giờ các thầy tế lễ cả và các trưởng lão trong dân nhóm lại trong tòa thầy cả thượng phẩm tên là Cai-phe;
3 Imaibo Firis ukwarih naatu regaregah ai’in etei firis gagamin Kaiafas ana baremaim hiru’ay.
4 và bàn với nhau dùng mưu chước gì đặng bắt Đức Chúa Jêsus mà giết.
4 Naatu Jesu wa’iwa’iramaim fatumin bain asabunin isan hiyakitifuw.
5 Song họ nói rằng: Không nên làm trong ngày lễ, e trong dân chúng sanh ra điều xào xạc chăng.
5 Baise hio, “Men hiyuw tanabowabow wanawananamaim, anayabin rakit boro tanaku’ub was hinagiy.”
6 Khi Đức Chúa Jêsus ở làng Bê-tha-ni, tại nhà Si-môn là người phung,
6 Jesu na Bethany orot Simon biyan kokom ani’anin ana baremaim tit,
7 có một người đờn bà cầm cái chai bằng ngọc trắng đựng dầu thơm quí giá lắm, đến gần mà đổ trên đầu Ngài đương khi ngồi ăn.
7 mare ma bay eaa auman babin ta kibub kikimin kabay wabin alabaster imaim hikwak raiy ana baiyan gagamin hisuwai batabat bai na run Jesu aribun yan isuwai re.
8 Môn đồ thấy vậy, giận mà trách rằng: Sao phí của như vậy?
8 Ana bai’ufununayah hi’itin yah so’ar hio, “Iti sawar i yabin en asir esisinaf.
9 Dầu nầy có thể bán được nhiều tiền và lấy mà thí cho kẻ nghèo nàn.
9 Igewasin iti raiy ana baiyan tatayara’ah hitatubun kabay tatab, sabuw yababan wairafih tatitih.”
10 Đức Chúa Jêsus biết điều đó, bèn phán cùng môn đồ rằng: Sao các ngươi làm khó cho người đờn bà đó? Người đã làm việc tốt cho ta;
10 Baise Jesu so’ob abisa hio, imih iuwih eo, “Babin men yumatanamaim kwana’umih. Anayabin sawar gewasin maiyow ayu isau esisinaf.
11 vì các ngươi thương có kẻ nghèo ở cùng mình, song sẽ không có ta ở cùng luôn luôn.
11 Sabuw yababan wairafih boro mar etei bairi kwanama kwanibaisih, baise ayu i boro men mar etei bairi tanama’amih.
12 Người đổ dầu thơm trên mình ta là để sửa soạn chôn xác ta đó.
12 Iti babin ayu biyau raiy erabirab i ayu au morob isan eyayabuna.
13 Quả thật, ta nói cùng các ngươi, khắp cả thế gian, hễ nơi nào Tin Lành nầy được giảng ra, thì cũng thuật lại việc người ấy đã làm để nhớ đến người.
13 Anababatun a tur ao’owen, tafaram wanawananamaim iti Tur Gewasin hinabibinan ana maramaim abisa gewasin iti babin sisinaf boro kik owe’owen na’atube auman hinabinan.”
14 Bấy giờ có một người trong mười hai sứ đồ, tên là Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, đến tìm các thầy tế lễ cả,
14 Imaibo bai’ufununayah nah 12 wanawanahimaim orot wabin Judas Iscariot tit in firis ukwarih biyah tit,
15 mà nói rằng: Các thầy bằng lòng trả cho tôi bao nhiêu đặng tôi sẽ nộp người cho? Họ bèn trả cho nó ba chục bạc.
15 naatu ibatiyih, “Ayu Jesu anab kwa anabit boro abisa ayu kwanitu?” Naatu matanamaim kabay hibotait hiyab in 30 na’atube hiya’asair.
16 Từ lúc đó, nó tìm dịp tiện để nộp Đức Chúa Jêsus.
16 Nati ana veya’amaim Judas ef ana gewasin nuwet Jesu batih isan.
17 Trong ngày thứ nhứt ăn bánh không men, môn đồ đến gần Đức Chúa Jêsus mà thưa rằng: Thầy muốn chúng tôi dọn cho thầy ăn lễ Vượt qua tại đâu?
17 Faraw Wanawanan Yeast En ana hiyuw veya wantoro’ot bubusuruf, Jesu ana bai’ufununayah hina hio, “Menamaim kukokok Tar Nowaten ana bay anabogaigiwas?”
18 Ngài đáp rằng: Hãy vào thành, đến nhà một người kia, mà nói rằng: Thầy nói: Giờ ta gần đến; ta và môn đồ ta sẽ giữ lễ Vượt qua trong nhà ngươi.
18 Jesu iyafutih eo, “Kwanan Jerusalem bar merar kwanatit orot iti ana tur kwana’owen kwanao, ‘Bai’obaiyenayan eo, ayu au veya i natit, akokok au bai’ufununayah bairi boro o abaremaim Tar nowaten ana hiyuw anaa aniyasisir.’”
19 Môn đồ làm y như lời Đức Chúa Jêsus đã dạy mà dọn lễ Vượt qua.
19 Bai’ufununayah Jesu eobaimanih na’atube hisinaf, Tar Nowaten ana hiyuw hibogaigiwas.
20 Đến tối, Ngài ngồi ăn với mười hai sứ đồ.
20 Naatu nati rabirab bai’ufununayah etei 12 Jesu bairi himare hibusuruf bay hiaa.
21 Khi đương ăn, Ngài phán rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi rằng có một người trong các ngươi sẽ phản ta.
21 Bay hiaa wanawananamaim Jesu eo, “Turobe a tur ao’owen, kwa wanawanamaim orot ta boro babau inao anamorob.”
22 Các môn đồ lấy làm buồn bực lắm, và lần lượt hỏi Ngài rằng: Lạy Chúa, có phải tôi không? Ngài đáp rằng:
22 Ana bai’ufununayah hai yababan ra’at, naatu ta’ita’imon hibusuruf Jesu hibabatiy hio, “Regah, nati i men ayu’umih?”
23 Kẻ nào để tay vào mâm với ta, ấy là kẻ sẽ phản ta.
23 Jesu iyafutih eo, “Orot menatan ayu airi tew wanawanan ai rafiy anabubutu’ub, nati orot i boro ayu babau nao.
24 Con người đi, y theo lời đã chép về Ngài; song khốn nạn thay cho kẻ phản Con người! Thà nó chẳng sanh ra thì hơn!
24 Orot Natun i boro namorob Bukamaim hikirum hio na’atube. Baise orot yait ayu babau nao, nati orot i boro yababan gagamin na’in nab. Gewasin nati orot tafaramamaim men tatufuwamih!”
25 Giu-đa là kẻ phản Ngài cất tiếng hỏi rằng: Thưa thầy, có phải tôi chăng? Ngài phán rằng: Thật như ngươi đã nói.
25 Judas yanuwayan Jesu ibatiy eo, “Regah, o kunotanot i men ayu’umih?” Jesu iya’afut eo, “O wai.”
26 Khi đương ăn, Đức Chúa Jêsus lấy bánh, tạ ơn rồi, bẻ ra đưa cho môn đồ mà rằng: Hãy lấy ăn đi, nầy là thân thể ta.
26 Bay hia wanawanan Jesu rafiy bai, i gegewasin sawar, imasib, ana bai’ufununayah itih eo, “Iti i ayu biyau kwabai naatu kwa’aan.”
27 Ngài lại lấy chén, tạ ơn rồi, đưa cho môn đồ mà rằng: Hết thảy hãy uống đi;
27 Imaibo wine kerowasamaim hisuwai batabat bai God ana merar yi sawar, itih eo, “Kwa etei’imak iti kwanatom.
28 vì nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước đã đổ ra cho nhiều người được tha tội.
28 Iti i ayu au rara, au Obaibasit Boubun abisuwai sabuw moumurih hai bowabow kakafih notawiyen isan.
29 Ta phán cùng các ngươi, từ rày về sau, ta không uống trái nho nầy nữa, cho đến ngày mà ta sẽ uống trái nho mới cùng các ngươi ở trong nước của Cha ta.
29 A tur ao’owen, ayu iti wine boro men anatom, anama’am nati ana veya’amaim wine boubun kwa bairit Tamai ana aiwobomaim tanatom.”
30 Khi đã hát thơ thánh rồi, Đức Chúa Jêsus và môn đồ đi ra mà lên núi Ô-li-ve.
30 Naatu himisir ew ta hitabor hitit hin Olive Oyawamaim hitit.
31 Ngài bèn phán rằng: Đêm nay các ngươi sẽ đều vấp phạm vì cớ ta, như có chép rằng: Ta sẽ đánh kẻ chăn chiên, thì chiên trong bầy sẽ bị tan lạc.
31 Imaibo Jesu hai tur eowen eo, “Iti boun gugumin kwa etei boro kwanabihir ayu kwanihamiyu, Buk Atamaninamaim eo na’atube,
32 Song sau khi ta sống lại rồi, ta sẽ đi đến xứ Ga-li-lê trước các ngươi.
32 Baise ayu morobone anamimisir ufunamaim boro au na ani’iyon wan anan Galilee anatit.”
33 Phi -e-rơ cất tiếng thưa rằng: Dầu mọi người vấp phạm vì cớ thầy, song tôi chắc không bao giờ vấp phạm vậy.
33 Peter iya’afut eo, “Turau’unah boro hinabihir, baise ayu boro men anabihir o anihamiyimih.”
34 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, chính đêm nay, trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối ta ba lần.
34 Jesu Peter iu, “Anababatun a tur ao’owen, boun gugumin o boro ayu inayaubu mar tounu, naatu i ufunamaim kokorere boro nao’o inanowar.”
35 Phi -e-rơ thưa rằng: Dầu tôi phải chết với thầy đi nữa, tôi chẳng chối thầy đâu. Hết thảy môn đồ đều nói y như vậy.
35 Peter raro’on rab eo, “Ayu boro men kafa’imo tur nati ana’omih, morobomih na’at airit tanamorob.” Naatu bai’ufununayah etei tur ta’imon hio.
36 Rồi Đức Chúa Jêsus cùng môn đồ đi đến một chỗ kêu là Ghết-sê-ma-nê. Ngài phán rằng: Hãy ngồi đây đợi ta đi cầu nguyện đằng kia.
36 Imaibo Jesu ana bai’ufununayah bairi hitit hin Gethsemane hitit naatu iuwih eo, “Iti imaim kwamare kwama, ayu anan auweyane anayoyoban.”
37 Đoạn, Ngài bèn đem Phi -e-rơ và hai người con của Xê-bê-đê đi với mình, tức thì Ngài buồn bực và sầu não lắm.
37 Peter naatu Zebedee natunatun rou’ab buwih bairi hin, ana not kwaris naatu dogoron wanawanan ana yababan ra’at
38 Ngài bèn phán: Linh hồn ta buồn bực cho đến chết; các ngươi hãy ở đây và tỉnh thức với ta.
38 iuwih eo, “Dogorou wanawanan au yababan i ra’at kwanekwan dogorou emama’afut. Imih iti’imaim kwamare mata nanuw bairit tanama.”
39 Rồi Ngài bước tới một ít, sấp mặt xuống đất mà cầu nguyện rằng: Cha ơi! nếu có thể được, xin cho chén nầy lìa khỏi Con! Song không theo ý muốn Con, mà theo ý muốn Cha.
39 Jesu akisinamo nabinamaim in yumatan au babe ra’iy yoyoban eo, “Tamai, karam iti biyababan ana kerowas ayu biyau’umaim itabosair, baise men ayu au kok, o a kok.” Bai’ufununayah bay hibow tefafaram|alt="Jesus praying in garden" src="cn01810B.tif" size="col" loc="Mat 26.39" copy="©1978 David C. Cook Publishing Co." ref="26.39"
40 Kế đó, Ngài trở lại với môn đồ, thấy đang ngủ, thì Ngài phán cùng Phi -e-rơ rằng: Thế thì các ngươi không tỉnh thức với ta trong một giờ được!
40 Naatu matabir maiye na ana bai’ufununayah nah tounu hi’inu’in itih, Peter isan eo, “Anayabin aisim nataunu’uka mata hifot kwa’inu’in, karam one hour na’atube mata tanuw bairit tatama?
41 Hãy thức canh và cầu nguyện, kẻo các ngươi sa vào chước cám dỗ; tâm thần thì muốn lắm, mà xác thịt thì yếu đuối.
41 Mata to iwa’an kwayoyoban, saise men routobon kwanabaimih. Anun i ekokok yoyoban, baise biya i himorob.”
42 Ngài lại đi lần thứ hai, mà cầu nguyện rằng: Cha ơi! nếu chén nầy không thể lìa khỏi Con được mà Con phải uống thì xin ý Cha được nên.
42 Mar bairou’abin Jesu in maiye yoyoban eo, “Tamai, iti biyababan ana kerowas bosairin isan ana ef men nama’am na’at, basit anatom, saise a kokok anasinaf namatar.”
43 Ngài trở lại nữa, thì thấy môn đồ còn ngủ; vì mắt họ đã đừ quá rồi.
43 Matabir maiye nan matah kou bit hi’in yugaranih inan itih.
44 Đoạn, Ngài bỏ mà lại đi cầu nguyện lần thứ ba, và lặp xin như lời trước.
44 Naatu ihamiyih hi’in i mar baitonin matabir in tur ta’imon eo yoyoban maiye.
45 Rồi Ngài đi đến với môn đồ, mà phán rằng: Bây giờ các ngươi ngủ và nghỉ ngơi ư! Nầy, giờ đã gần tới, Con người sẽ bị nộp trong tay kẻ có tội.
45 Imaibo matabir na ana bai’ufununayah biyah tit eo, “Kwa boro’ika kwa’in kwabiyarir? Mata tinuw, kwamisir, Orot Natun ana veya i natit, sabuw kakafih umahimaim eyey.
46 Hãy chờ dậy, đi hè, kìa kẻ phản ta đến kia.
46 Kwamisir tan! Orot yanuwayanaban iti enan kwa’i’itin.”
47 Khi Ngài còn đương phán, xảy thấy Giu-đa là một người trong mười hai sứ đồ đến với một bọn đông người cầm gươm và gậy, mà các thầy tế lễ và các trưởng lão trong dân đã sai đến.
47 Jesu eo ana tur sawara’e, bai’ufununayah 12 wanawanahimaim orot ta, wabin Judas, sabuw kou’ay gagamin na’in, firis ukwarih naatu regaregah ai’in hibiyafarih nawiyih kaiy, kefat, mis hiteten auman bairi hina hitit.
48 Đứa phản Ngài đã trao cho bọn đó dấu nầy: Người nào mà tôi sẽ hôn, ấy là người đó, hãy bắt lấy.
48 Orot yanuwayan sabuw eobaimanih eo, “Orot menatan anamamamay orotoban nati kwanab kwanafatum.”
49 Tức thì Giu-đa đến gần Đức Chúa Jêsus mà rằng: Chào thầy! Rồi hôn Ngài.
49 Judas mutufor in Jesu biyan tit eo, “Tufuw isa nama Bai’obaiyenayan!” naatu mamay.
50 Nhưng Đức Chúa Jêsus phán cùng nó rằng: Bạn ơi! vậy thì vì việc nầy mà ngươi đến đây sao? Rồi chúng nó đến gần tra tay bắt Đức Chúa Jêsus.
50 Jesu iya’afut eo, “Au begon, abisa isan inot inan saife kusinaf.” Imaibo sabuw hibatabat hitit Jesu uman hibai hibukikin.
51 Và nầy, có một người trong những người ở với Đức Chúa Jêsus giơ tay rút gươm ra, đánh đầy tớ của thầy cả thượng phẩm, chém đứt một cái tai của người.
51 Bai’ufununayan orot ta ana kaiy bora’ah, firis gagamin ana akir wairafin tainin roun eafuw.
52 Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Hãy nạp gươm vào vỏ; vì hễ ai cầm gươm thì sẽ bị chết về gươm.
52 Naatu Jesu iu, “A kaiy ana efanamaim kwiwan maiye, anayabin sabuw iyab umahimaim kaiy tema’am boro kaiyomaim hinamorob.
53 Ngươi tưởng ta không có thể xin Cha ta lập tức cho ta hơn mười hai đạo thiên sứ sao?
53 O men iso’obamih, ayu Tamai isan atabifefeyan boro mar ta’imon tounamatar sibisib na’atube tiyafarih ayu hitawasfafaru.
54 Nếu vậy, thế nào cho ứng nghiệm lời Kinh Thánh đã chép rằng việc nầy tất phải xảy đến?
54 Baise nati na’atube anasinaf, Buk Atamaninamaim mataramih hi’o hikikirum boro men niturobe’emih.”
55 Lúc bấy giờ, Đức Chúa Jêsus phán cùng chúng rằng: Các ngươi đem gươm và gậy đến mà bắt ta, khác nào như ta là kẻ cướp. Ta thường ngày ngồi trong đền thờ và giảng dạy tại đó, mà các ngươi không bắt ta.
55 Naatu tatabir sabuw isah eo, “Ana itinin ayu bainowan mowan na’atube, imih kaiy kefat kwaiteten ayu yuwu rabu’umih kwanan. Mar etei Tafaror Bar wanawananamaim ama sabuw abi’obaiyih aisim men imaim kwatafatumu?
56 Nhưng mọi điều ấy phải xảy đến, hầu cho những lời các đấng tiên tri đã chép được ứng nghiệm. Khi ấy, hết thảy môn đồ bỏ Ngài mà trốn đi.
56 Baise abisa God ana dinab oro’orot Buk Atamaninamaim hio hikikirum emamatar saife nan niturobe.” Nati’imaim ana bai’ufununayah etei hihamiy hibihir.
57 Những kẻ đã bắt Đức Chúa Jêsus đem Ngài đến nhà thầy cả thượng phẩm Cai-phe, tại đó các thầy thông giáo và các trưởng lão đã nhóm lại.
57 Sabuw Jesu hibai hifatum hibai hin firis gagamin wabin Kaiafas ana baremaim hitit, nati’imaim Ofafar Bai’obaiyenayah naatu regaregah ai’in hiru’ay hima’am.
58 Phi -e-rơ theo Ngài xa xa cho đến sân của thầy cả thượng phẩm, vào ngồi với các kẻ canh giữ đặng coi việc ấy ra làm sao.
58 Baise Peter yokaika Jesu i’ufunun bairi hina, firis gagamin ana bar sebosebomaim hitit naatu run ma’utenayan oro’orot bairi himare abisa tamamatar ta’itin isan.
59 Bấy giờ các thầy tế lễ cả và cả tòa công luận kiếm chứng dối về Ngài, cho được giết Ngài.
59 Firis gagamin naatu kaniser ana kau’ay etei hiru’ay nuhinot tur hitabow hitit hitifufuwen Jesu tamorob isan.
60 Dầu có nhiều người làm chứng dối có mặt tại đó, song tìm không được chứng nào cả. Sau hết, có hai người đến,
60 Baise nuhinot tur hinunuwet men ta hibai. Sabuw moumurih maiyow hitit Jesu morobomih hibifufuwen hai tur naniyan en.
61 nói như vầy: Người nầy đã nói Ta có thể phá đền thờ của Đức Chúa Trời, rồi dựng lại trong ba ngày.
61 hiorereb hio “Iti orot eo, ‘Ayu i karam God ana Tafaror bar anagurus nare, naatu veya tounu wanawanan boro anawowab efanin namatar.’”
62 Thầy cả thượng phẩm bèn đứng dậy mà nói với Ngài rằng: Những người nầy làm chứng mà kiện ngươi, ngươi không thưa lại gì sao?
62 Imaibo Firis gagamin misir Jesu isan eo, “O boro men tur ta inao? Orot hairi o a tur isan hio’orereb inonowar boro tur ta inao ai en?”
63 Nhưng Đức Chúa Jêsus cứ làm thinh. Thầy cả thượng phẩm lại nói với Ngài rằng: Ta khiến ngươi chỉ Đức Chúa Trời hằng sống mà thề, hãy nói cho chúng ta, ngươi có phải là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời chăng?
63 Baise Jesu awanamaim men tur ta titamih.
64 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Thật như lời; vả lại, ta nói cùng các ngươi, về sau các ngươi sẽ thấy Con người ngồi bên hữu quyền phép Đức Chúa Trời, và ngự trên mây từ trời mà xuống.
64 Jesu iya’afut eo, “Tur i nati kuo, baise kwa etei a tur ao’owen. Mar boro nanan orot Natun boro God uman ana asukwafune nabat mar ana rofom wanawanan nanan kwana’itin.”
65 Thầy cả thượng phẩm bèn xé áo mình mà nói rằng: Nó đã nói phạm thượng; chúng ta còn cần gì người làm chứng nữa sao Các ngươi vừa nghe lời phạm thượng đó, thì nghĩ làm sao?
65 Firis gagamin iti tur nonowar ana veya ana faifuw bai sib eo, “Iti orot i tur kakafin maiyow eo God ebi’ib! Aisim boro tanama sif rubonayah afa’abo tananuwet? Kwa taiyuw bai’ib tur eo kwanowar,
66 Chúng trả lời rằng: Nó đáng chết!
66 kwa a not i mi’itube?” Etei hiya’afut hio, “I bowabow kakafin sinaf imih namorob!”
67 Họ bèn nhổ trên mặt Ngài, đấm Ngài, lại có kẻ vả Ngài,
67 Imaibo yumatan hikwaitututur, hiborabirab naatu sabuw afa hiboborabirab,
68 mà nói rằng: Hỡi Đấng Christ, hãy nói tiên tri đi; cho chúng ta biết ai đánh ngươi.
68 hio, “Keriso, o God ana dinab orot na’at kuo anowar! Yait o rab?”
69 Bấy giờ Phi -e-rơ vẫn ngồi ngoài sân. Có một người đầy tớ gái đến gần, mà nói cùng người rằng: Ngươi cũng là kẻ ở với Jêsus, người Ga-li-lê.
69 Peter ufun bar ana seboseb wanawanan mare ma’am, Firis Gagamin ana bowayan babitai tit iu, “O auman i Galilee orot Jesu ana of ta.”
70 Song Phi -e-rơ chối trước mặt chúng mà rằng: Ta không hiểu ngươi nói chi.
70 Baise Peter sabuw etei nahimaim yaub eo, “Ayu o a tur kuo yabin men aso’ob.”
71 Khi đi ra ngoài cửa, lại có một đầy tớ gái khác thấy người, bèn nói cùng kẻ ở đó rằng: Người nầy cũng ở với Jêsus, người Na-xa-rét.
71 Naatu misir tit in bar ana etawan awanamaim tit, nati’imaim bowayan babitai ta itin naatu oro’orot nati’imaim hibatabat hai tur eowen eo, “Iti orot i Jesu Nazareth mowan ana of ta.”
72 Song Phi -e-rơ lại chối và thề rằng: Ta chẳng hề biết người ấy.
72 Peter iban maiye yaub naatu ifaro eo, “Ayu nati orot men aso’ob.”
73 Một chặp nữa, những kẻ ở gần đó đến gần nói với Phi -e-rơ rằng: Chắc thật, ngươi cũng thuộc về đảng ấy, vì tiếng nói của ngươi khai ngươi ra.
73 Hima kafa’imo orot afa nati’imaim hibatabat hina Peter biyan hitit hio, “O i anababatun ni’i orot ana of ta, anayabin a tur kuo ana nowarin naatu a sawar io’osen ana itinin i ta’imon.”
74 Người bèn rủa mà thề rằng: Ta không biết người đó đâu! Tức thì gà gáy.
74 Imaibo Peter ifaro eo, “Ana bifufuwen na’at God ana orarafen anab, tur anababatun a tur ao’owen, ayu iti orot men aso’ob.” Mar ta’imon kokorere eo.
75 Phi -e-rơ nhớ lại lời Đức Chúa Jêsus đã phán rằng: Trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối ta ba lần. Đoạn, người đi ra và khóc lóc cách đắng cay.
75 Basit Peter nuhin taseb Jesu eo not, “O boro mar tounu ayu inayaubu, imaibo kokorere boro nao.” Naatu Peter tit in ufun rerey igagagamat.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Mateus 26, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.