Jó 36

Tiếng Việt (VIE) vs NTLH

Sair da comparação
NTLH Nova Tradução na Linguagem de Hoje 2000
1 Ê-li-hu nói tiếp rằng:
1 Eliú continuou a falar. Ele disse:
2 Xin hãy nhịn tôi một chút, tôi sẽ chỉ cho ông; Vì tôi còn những lời binh vực Đức Chúa Trời.
2 “Jó, tenha um pouco mais de paciência, pois ainda vou lhe mostrar que tenho outras coisas a dizer a favor de Deus.
3 Tôi sẽ đem đến từ xa điều tôi hiểu biết, Và xưng tỏ sự công bình của Đấng Tạo hóa tôi.
3 Usarei os meus profundos conhecimentos para mostrar que Deus, o meu Criador, é justo.
4 Quả hẳn các lời luận tôi chẳng phải giả dối; Đấng vốn trọn vẹn về tri thức đương ở cùng ông.
4 Tudo o que vou dizer é verdade; quem está falando com você é realmente um sábio.
5 Kìa, Đức Chúa Trời có quyền năng, không khinh bỉ ai; Trí huệ Ngài rất rộng lớn.
5 “Como Deus é poderoso! Ele não despreza ninguém. Deus sabe todas as coisas.
6 Ngài chẳng bảo tồn mạng sống của kẻ gian ác, Nhưng xử đoán công bình cho kẻ khổ nạn.
6 Ele não deixa que os maus continuem vivendo e sempre trata os pobres com justiça.
7 Ngài chẳng xây mặt khỏi người công bình; Song Ngài khiến họ đồng ngồi cùng các vua trên ngôi mãi mãi, Và họ được cao trọng.
7 Deus protege os homens corretos, deixa que eles governem como reis e assim tenham uma alta posição para sempre.
8 Nếu họ phải mang xiềng xích, Và bị dây gian truân vấn vướng,
8 Mas, se alguns são presos com correntes ou são amarrados com as cordas dos sofrimentos,
9 Thì Ngài chỉ tỏ cho họ công việc mình đã làm, Các tội lỗi và tánh hạnh kiêu ngạo của họ.
9 então Deus lhes mostra que isso é por causa do que fizeram, que é o castigo pelos seus pecados e pelo seu orgulho.
10 Ngài cũng mở lỗ tai của chúng cho nghe lời sửa dạy, Khuyên họ trở lại bỏ điều gian ác.
10 Deus faz com que escutem os seus avisos e manda que abandonem o pecado.
11 Nếu chúng vâng nghe và phục sự Ngài, Thì các ngày chúng sẽ được may mắn, Và những năm chúng được vui sướng.
11 Se obedecem a Deus e o adoram, então têm paz e prosperidade até o fim da vida.
12 Nhưng nếu họ không khứng nghe theo, ắt sẽ bị gươm giết mất, Và chết không hiểu biết gì.
12 Mas, se não se importam com Deus, então morrem na ignorância, atravessam o rio e entram no
13 Lòng giả hình tích chứa sự thạnh nộ; Khi Đức Chúa Trời bắt xiềng chúng, chúng chẳng kêu cứu.
13 “Aqueles que têm um coração perverso guardam raiva e, mesmo quando são castigados, não clamam pedindo socorro.
14 Chúng chết đương buổi thanh xuân; Đời chúng bị hư mất trong bọn gian dâm.
14 Desonram o seu corpo entre si e morrem em plena mocidade.
15 Đức Chúa Trời dùng sự hoạn nạn mà cứu kẻ bị hoạn nạn, Và nhờ sự hà hiếp mà mở lỗ tai của người.
15 Mas Deus nos ensina por meio do sofrimento e usa a aflição para abrir os nossos olhos.
16 Ngài cũng chắc đã muốn dụ ông khỏi hoạn nạn, Đặt ông nơi khoảng khoát, chẳng còn sự cực lòng; Còn các món ăn dọn nơi bàn ông, tất đều được đầy mỡ béo.
16 “Jó, Deus o livrou dos perigos e o deixou viver em segurança. À sua mesa sempre se comeu do bom e do melhor.
17 Nhưng ông đầy dẫy sự nghị luận của kẻ ác; Sự xét đoán và sự hình phạt chắc sẽ hãm bắt ông.
17 Mas você foi julgado e condenado e agora está recebendo o castigo que merece.
18 Chớ để cơn giận giục ông chống cự cùng sự sửa phạt; Đừng lầm lạc vì cớ giá bội thường lớn quá.
18 Cuidado, não aceite dinheiro para torcer a justiça, não deixe que as muitas riquezas o seduzam.
19 Chớ thì sự giàu có ông và các thế lực của ông, Có thể cứu ông khỏi sự hoạn nạn sao?
19 Não adianta nada gritar pedindo socorro; todo o seu poder não tem nenhum valor agora.
20 Chớ ước ao đêm tối, Là lúc dân tộc bị cất đi khỏi chỗ mình.
20 Não fique desejando que chegue a noite em que as nações serão destruídas.
21 Khá giữ lấy mình, chớ xây về tội ác; Vì ấy là điều ông ưa chọn hơn sự hoạn nạn.
21 Você está sofrendo por causa da sua maldade; cuidado, não se volte para ela!
22 Kìa, Đức Chúa Trời dùng quyền năng mà làm việc cách cao cả, Có giáo sư nào giống như Ngài chăng?
22 “Como é grande o poder de Deus! Quem é capaz de governar tão bem como ele?
23 Ai có chỉ dạy cho Ngài biết con đường của Ngài? Và ai nói rằng: Chúa có làm quấy?
23 Ninguém pode dar ordens a Deus, nem acusá-lo de praticar o mal.
24 Hãy nhớ ngợi khen các công việc Chúa, Mà loài người thường có ca tụng.
24 O mundo inteiro o louva pelo que ele faz, e você também não esqueça de louvá-lo.
25 Mọi nguời đều đã ngoạn xem công việc ấy, Và loài người từ xa nhìn thấy nó.
25 Mesmo de longe todos nós vemos e admiramos o que Deus está fazendo.
26 Phải, Đức Chúa Trời là cực đại, chúng ta không biết được Ngài; Số năm của Ngài thọ không ai kể xiết được.
26 Ele é grande demais para que o possamos conhecer; nós não podemos calcular quantos anos já viveu.
27 Vì Ngài thâu hấp các giọt nước: Rồi từ sa mù giọt nước ấy bèn hóa ra mưa,
27 “Deus faz com que a água da terra suba para um depósito e depois a transforma em gotas de chuva.
28 Đám mây đổ mưa ấy ra, Nó từ giọt sa xuống rất nhiều trên loài người.
28 As nuvens derramam a água, que cai em aguaceiros sobre a terra.
29 ai có thể hiểu được cách mây giăng ra, Và tiếng lôi đình của nhà trại Ngài?
29 Quem entende o movimento das nuvens ou o barulho dos trovões no céu, onde Deus mora?
30 Kìa, Chúa bủa ánh sáng ra chung quanh Ngài, Và che lấp đáy biển.
30 Deus espalha relâmpagos em volta de si, mas o fundo do mar continua escuro.
31 Vì nhờ những điều ấy Ngài xét đoán các dân tộc; Ngài ban cho lương thực nhiều.
31 É assim que Deus alimenta os povos e lhes dá comida à vontade.
32 Ngài giấu sấm sét trong tay Ngài, Và truyền nó phải đánh nơi nào.
32 Ele pega o raio com as mãos e manda que atinja o alvo.
33 Tiếng sấm sét báo cáo việc Ngài, Và chính súc vật cũng đoán điềm dông mưa gần đến.
33 O gado sente que a tempestade está perto, e o trovão avisa que ela vem aí.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Jó 36, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.